|
Click vào các Tựa bài dưới đây:Một vòng luân chuyển của Võ trụ, gọi một "Đại khai tịch" hay một cuộc tuần hườn có ba Nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn.
Thượng nguơn là nguơn Tạo hóa, nguơn gầy dựng Kiền Khôn Võ Trụ. Nhơn loại bấy giờ còn giữ thánh đức của Thượng đế ban cho, nên còn thuần chất phác thiện lương, cứ thuận tùng Thiên Lý mà hòa hiệp dưới trên, tương thân tương ái. Đó là thời đại thái bình, tức là nguơn Thánh đức.
Lần lần con người vì nhiễm hồng trần phải lu lờ Thánh đức, bỏ Thiên lý mà sa vào Nhơn dục.
Vì vậy, Thượng Đế mới khai Tam Giáo phổ độ chúng sanh bỏ dữ về lành, tức là "Nhứt Kỳ Phổ Độ".
Các vì Giáo chủ là:
Nhơn đạo: Văn Tuyên Đế Quân.
Tiên đạo: Hồng quân Lão Tổ.
Phật đạo: Nhiên Đăng Cổ Phật.
Được tạo hóa, nhơn loại tất phải tấn hóa. Tấn hóa tất phải tranh đấu. Tranh đấu tất phải tự diệt. Đó là thời kỳ Trung nguơn, tức là nguơn Tấn hóa, nguơn Tranh đấu, nguơn Tự diệt.
Cho nên Thượng Đế thiết "Nhị Kỳ Phổ Độ”.
Nhơn đạo có Khổng Tử cảnh tỉnh nhơn tâm đặng duy trì đạo đức.
Tiên đạo có Lão Tử dìu đẫn nhơn sanh ra khỏi vòng thấp hèn vật chất mà xu hướng về chỗ tinh thần cao thượng.
Phật đạo có Thích Ca truyền bá chủ nghĩa từ bi tránh cho nhơn sanh cái nạn tự diệt.
Không tự diệt, tức bảo tồn. Hạ nguơn tức là Nguơn Bảo Tồn vậy.
Vì lẽ bảo tồn, nên ngày nay Hạ nguơn hầu mãn, Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút lập "Tam Kỳ Phổ Độ".
Lại cũng bởi Hạ nguơn là nguơn cuối cùng Đại Đạo phải qui nguyên phục nhứt theo lẽ Tuần huờn . Vậy mới có cái tôn chỉ “Tam Giáo, Ngũ Chi hiệp Nhứt”.
Đức Chí Tôn có dạy:
“Vốn từ trước, Thầy lập ra Ngũ Chi Đại Đạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo, tùy theo phong hóa của nhơn loại mỗi nơi mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc Khán, Khôn vô đắc Duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.
Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy nhứt định qui nguyên phục nhứt.
Lại nữa, trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà hóa ra phàm giáo. Nay Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng giao Chánh giáo cho tay phàm nữa; nhưng buộc phải lập chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ cho các con dìu dắt lẫn nhau anh trước em sau, mà đến nơi Bồng đảo”.
Thiệt hành tôn chỉ "Qui nguyên phục nhứt" là thừa nhận các tôn giáo đều một gốc mà ra, đều tôn sùng một đấng Chúa tể, tức là ông Cha chung, mặc dầu mỗi nước xưng tụng bằng danh hiệu khác nhau.
Các săc dân trên địa cầu nầy, nhơn nuôi nấng một tín ngưỡng chung, sẽ nhìn nhau là anh em và biết tương thân tương ái. Nước nầy nhơn đó mà liên hiệp với nước kia, người xứ kia nhơn đó mà đoàn kết với người xứ nọ, thành ra năm Châu chung chợ, bốn Biển một nhà, hết phân biệt màu da sắc tóc, hết nghi kỵ lẫn nhau, hết xâu xé lẫn nhau, rồi đời mới được hòa bình, lần bước đến Đại Đồng Bác ái.
Đại Đạo sẵn sàng hoan nghinh tất cả anh em trong các giáo, lấy câu “Đại đồng Bác ái” làm dây thiêng liêng buộc nhau cho ngày một khắn khít để chung thờ một Lý tưởng cao siêu.
Đức Chí Tôn đã nói:
“Nhiều đạo cũng như một cái nhà. Phải có nào là cột cái, cột con, đòn tay, kèo, ruôi. Ruôi là nhỏ, mỏng mảnh hơn hết, mà cũng phải nhờ nó. Tuy kể cho nhiều tên, chớ cất nhà rồi, thì có một ông chủ mà thôi”.
Một mối đạo có cái tôn chỉ dung hòa và chiết trung như Đại Đạo “Tam Kỳ Phổ Độ”, mới thể theo đức háo sanh của Thượng Đế.
Có người cho rằng các tôn giáo có nhiều chỗ tương phản và bất đồng rõ rệt, nên khó mà dung hòa. Vậy thử xét qua chủ trương và lập thuyết của các giáo xem sao.
Chủ trương việc hành thiện:
Đạo Khổng dạy Trung Thứ .
Phàm việc chi mình không muốn, thì đừng đem làm cho ai (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhơn).
giống Chúa Giê Giu (Jésus) dạy: “Đừng làm cho kẻ khác điều gì mà các ngươi không muốn người ta làm cho mình” (Ne faites pas aux autres ce que vous ne voudriez pas qu’on fit).
Khổng Thánh lại dạy: “Mình nên, cũng muốn người nên; mình thạnh đạt, cũng muốn người thạnh đạt. (Kỷ dục lập, nhi lập nhơn; Kỷ dục đạt, nhi đạt nhơn).
Đó là cách hành động của đạo Khổng để thiệt hành chủ nghĩa nhơn ái hay bác ái.
Đạo Lão dạy Cảm ứng. Phàm các hành động con người đều có cơ cảm ứng, cho nên phải sửa lòng giữa nết theo lẽ đạo cho trọn lành. Đó là phù hợp với thuyết nhơn quả nhà Phật. Thì cũng như Chúa Giê Giu nói: Ai xử dụng đao kiếm sẽ chết về đao kiếm (Qui manie l’épée périra par l’épée). Và cũng như câu của Khổng giáo: Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa. (Chưởng đậu đắc đậu, chưởng qua đắc qua).
Đạo Phật dạy Từ bi, là lòng lành thương tất cả chúng sanh mà độ hết.
Mấy chủ trương ấy, có chỗ nào tương phản đâu?
Về tâm pháp
Khổng giáo dạy Tồn Tâm Dưỡng Tánh;
Lão giáo dạy Tu Tâm Luyện Tánh.
Phật Giáo dạy Minh Tâm Kiến Tánh.
Thế thì Tam giáo dạy không ngoài Tâm với Tánh.
Về giáo lý
Khổng giáo nói: "Tất cả loài hàm linh đều có một điểm Thái Cực” (Nhứt thiết hàm linh các cụ nhứt Thái Cực).
Đạo Lão thì: “Đạo sanh Một, Một sanh Hai, Hai sanh Ba, Ba sanh vạn vật” (Đạo sanh Nhứt, Nhứt sanh Nhị, Nhị sanh Tam, Tam sanh vạn vật).
Còn Đạo Phật thì: "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật" (Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh).
Phật tánh vốn có cái Chơn thể bất di bất dịch, nên gọi là Chơn Như.
Tóm lại, Khổng giáo có thuyết "Thái Cực". Lão giáo có "Đạo", Phật giáo có "Chơn Như". Thái Cực, Đạo, Chơn Như, danh từ tuy khác, tựu trung đều chỉ chỗ nguồn gốc của Võ trụ, tức là cái Chơn thể độc nhứt vô nhị của Tạo Hóa vậy.
Xét về lịch sử
Lão Tử giáng phàm tại Trung Hoa, nhằm đời nhà Châu, 604 trước Tây lịch Kỷ nguyên.
Cũng tại Trung Hoa và cũng trong đời Châu, Khổng Tử giáng sanh sau Lão Tử 53 năm.
Khổng Tử thường đến hỏi lễ với Lão Tử.
Hai nhà Giáo chủ không hề nghịch lẫn nhau. Sau rồi, hai giáo có chỗ xung đột là bởi tông đồ đôi bên vì muốn làm sáng đạo mình mà xuyên tạc đạo khác.
Cũng trong đời Châu, Phật Thích Ca giáng sanh bên Ấn độ, 560 năm trước Thiên Chúa kỷ nguyên. Lần lần đạo Phật truyền sang Trung Hoa mà được thạnh hành là từ khi Trần huyền Trang (Tam Tạng) qua Thiên Trước (Ấn độ) thỉnh kinh đem về nước mình.
Lúc đạo Phật bắt đầu truyền sang Trung hoa, nhà Phật cũng nương theo đạo Lão mà truyền bá tôn chỉ đạo mình. Lại cũng nhờ tư tưởng và triết lý hai đạo có nhiều chỗ phù hợp nhau, nên các nhà truyền giáo đạo Phật mượn những danh từ triết lý sẵn có của Lão giáo để biện giải tư tưởng mới của mình. Nhờ vậy, đạo Phật mới được người Tàu hoan nghinh, và cái tôn chỉ "Tam Giáo hiệp Nhứt" đã khởi điểm ở Trung hoa ngay từ lúc ấy.
Chủ nghĩa của Đại Đạo là dìu dẫn nhơn sanh trên hai con đường tương đối xử thế và xuất thế.
Xử thế có hai yếu tố: luân lý và triết lý.
Về luân lý, Đại Đạo dạy người đời những nghĩa vụ đối với mình, đối với gia quyến, đối với xã hội là cái gia quyến rộng lớn, đối với tất cả chúng sanh là cái gia quyến đại đồng.
Về triết lý, Đại Đạo dạy người đời nên khinh thường cái vinh hoa phú quí, xa lánh những sự xa hoa, tóm lại là phải thoát ly những ràng buộc không cần yếu về đời sống vật chất để cần yên ổn tââm thần.
Xuất thế cũng có hai yếu tố: tín ngưỡng và tu hành.
Về tín ngưỡng, Đại Đạo dạy tin có Trời là Chúa tể vạn vật; có Thần, Thánh, Tiên, Phật là các đấng Thiêng liêng cao khiết, có Linh hồn là thiêng liêng bất diệt, có luân hồi và cơ tấn hóa của chư Hồn, có Nhơn quả là Luật công bình thưởng phạt.
Về tu hành, Đại Đạo dạy tất cả bổn đạo từ tín đồ đến chức sắc lưỡng phái, phải tùy địa vị mình mà phổ độ chúng sanh, đặng lập công quả là nấc thang bước lên phẩm vị thiêng liêng, và phải tuân theo luật Đạo mà trau đồi đức hạnh, thủ giới trì trai, hàm dưỡng tinh thần, tu tâm luyện tánh.
Yếu điểm của chủ nghĩa Đại Đạo, dầu xử thế hay xuất thế, là Bác ái và Chí thành.
Đức Chí Tôn có dạy:
"Đạo gốc tại lòng bác ái và chí thành.
Bác ái là lòng đại từ đại bi, thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình như mảy lông, mà coi thiên hạ trọng bằng trời đất.
Còn chí thành là lòng thành thật đem đến cực điểm mà đối đãi ngoài đời và trong đạo".
Trên đây là lời dạy đại lược, chúng tôi xin phụ giải thêm cho rộng hiểu.
I- Bác Ái
Nhơn loại phần nhiều cũng bởi cái lòng vị kỷ mà hành động bất công. Kẻ tham trộm là bởi quí trọng tài lợi mình mà không quí trọng của thiên hạ, vì vậy mới tính lấy của người bồi bổ thêm của mình; yếu thế, thì gạt lường trộm cấp; mạnh thế lại ép đè, bốc lột, có khi còn hại đến mạng người là khác.
Phàm ăn thịt một con vật là đem huyết nhục nó bổi bổ cho huyết nhục mình, tức là trọng sanh mạng mình mà không trọng sanh mạng con vật.
Như hai đàng chiến đấu, bên nào cũng đem hết lực lượng, tìm hết cách tiêu diệt đối phương thì đàng nào cũng trọng mạng mình mà không trọng mạng bên nghịch.
Lòng vị kỷ gia hại cho nhơn quần xã hội sở dĩ là vậy.
Nay muốn tiêu trừ cái hại ấy, cần nhứt phải làm thế nào cho thiên hạ, ai ai cũng có cái lòng bác ái. Chẳng những chúng ta thương ông bà cha mẹ, cùng họ hàng quyến thuộc, mà còn phải thương rộng ra đến cả mọi người chẳng luận người nước nào, dân tộc nào.
Lại chẳng những chúng ta thương cả nhân loại, mà còn phải để lòng thương lan rộng ra cho tất cả loài sanh vật khác.
Nhà triết lý Fichte người Đức và nhà văn hào Tolstoi người Nga, cũng đồng khuyên chúng sanh thương người như thương mình và hơn nữa, thương người hơn cả mình.
Ở Chúa Giê Giu, lòng bác ái lại bồng bôảt hơn. Lòng bác ái của Chúa không phải hạn chế ở chỗ giúp đỡ, ban phước và giải nạn, mà còn tự đem mình chịu khổ tử hình để cứu chuộc tội lỗi cho cả chúng sanh.
Lòng bác ái của Phật Thích Ca vốn vô lượng vô biên, đến nỗi tự thí thân đặng giúp món ăn cho con hổ cái mới đẻ, vừa đói vừa mệt, trong cơn túng cùng, sắp sửa ăn thịt con.
Lòng bác ái của đức Khổng Tử gốc ở điều nhân, mà đạo Nhân là đạo lấy sự thương người làm trọng. Theo Đức Thánh, Trời vốn có đức háo sanh, gầy dựng muôn loài cho đặng tốt đẹp, đồng đức nhau. Con người vốn ở trong muôn loài tất phải thể theo ý Trời mà thương đều muôn vật.
Một hôm, vua nước Sở đi săn, dọc đường đánh mất cây cung. Quần thần theo hầu cố xin tìm lại cho được. Nhà vua phán: “Người nước Sở đánh mất cung, một người khác nước Sở sẽ được, có thiệt chi đâu?”
Việc nầy thấu tai đức Thánh, Ngài than: “Rất tiếc cho chí vua Sở còn hẹp. Cần gì phải nói là người nước Sở Giá nói: “Người nầy đánh mất cung, người khác sẽ được”, thì có hơn không?
Theo Đức Thánh lòng bác ái phải lan rộng khắp cả người thiên hạ trong bốn bể năm châu, chớ không nên hạn định trong một xứ, một nước nào cả.
Lòng bác ái, cũng như tôn giáo không quốc giới.
1-Tại sao chúng ta thương cả nhơn loại?
Trên mặt địa cầu nhơn loại sở dĩ chia ra nhiều giống, là tại phong thổ cùng khí hậu mỗi xứ khác nhau, song chẳng qua khác nhau về hình thể bề ngoài; về thiêng liêng thì ai cũng đồng thọ của đấng Tạo Hóa mỗi điểm linh quang tức là Hồn nhờ đó mà sanh sống mà tri giác.
Đức Chí Tôn đã dạy:
"Thầy thường nói với các con rằng Thầy là Cha của sự thương yêu. Do bởi thương yêu, Thầy mới tạo thành thế giới và sanh dưỡng các con.
Vậy thì các con sản xuất nơi sự thương yêu. Sản xuất nơi sự thương yêu, các con tức là cơ thể của sự thương yêu.
Ấy vậy sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn Khôn Thế Giới. Bởi thương yêu mà vạn loại hòa bình, Càn khôn an tịnh, mới không thù nghịch nhau. Không thù nghịch nhau, mới không tàn hại nhau. Không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa.
Còn kẻ nghịch cơ sanh hóa là ai?
- Là Quỉ vương đó. Quỉ vương vốn là tay diệt hóa. Cũng như có sống của Thầy, ắt phải có chết của Quỉ vương.
Quỉ vương lấy cơ thể nào mà tàn hại các con?
- Ấy là sự ghét.
Vì ghét nhau, vạn loại mới nghịch lẫn nhau. Nghịch lẫn nhau, mới tàn hạỉi lẫn nhau. Mà tàn hại lẫn nhau, là cơ diệt thế.
Vậy, Thầy cấm các con từ đây, nếu không đủ sức thương yêu nhau, thì cũng chẳng đặng ghét nhau.”
Tóm tắt bài Thánh huấn nầy, chúng ta có thể nói:
"Thương người, thương vật là gần Trời.
Ghét người, ghét vật là gần Quỉ."
2-Tại sao chúng ta thương cả sanh vật?
Cầm thú, tuy không biết nói, chớ cũng biết đau đớn, thương yêu, đoàn thể và tình nghĩa như người. Vả, kiếp nầy chúng ta được sanh làm người, chớ trước kia, chúng ta cũng trải qua nhiều kiếp làm con vật. Thế thì người và vật vốn đồng nguyên chỉ khác nhau ở chỗ tấn hóa trước sau mà thôi. Sanh vật tức là đàn em của chúng ta đương còn tuần tự theo chơn nối gót chúng ta trên đường tấn hóa.
Vì bác ái, nhà tôn giáo cấm sát sanh.
Vì bác ái, nhà luân lý khuyên người không nên hủy hoại con vật
II – Chí Thành
Ở đời, có nhiều kẻ vì lợi quyền, vì danh vọng mà cố đặt mình lên địa vị cao cả hơn người. Vậy mới tính trăm mưu ngàn kế để riêng giành hạnh phước cho mình. Cái lòng tham muốn đã lên đến cực điểm, thì còn kể chi đến công bình? Thành ra, trong việc cư xử với đời thường mất tín thành.
Làm người mà không tín thành là mất hẳn nhơn cách; mình đã tự dối mình dối lương tâm mình, mà còn tự đặt mình xuống thấp hơn những người bị mình lừa dối.
Đức Chí thành làụ nguồn gốc tất cả đức tánh, cho nên con người mà chẳng lo ung đúc được chí thành là nguồn gốc, thì mong chi trau dồi đức hạnh khác là nhánh nhóc?
Đức chí thành tỷ như một khối vàng ròng dùng chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí ư khối vàng ấy phải pha trộn cho mất nguyên chất đi, bảo sao những trang sức do đó làm ra chẳng xấu hèn thấp giá?
Lão Tử có câu: "Người có tín thành như xe có bánh, người quân tử thốt ra một lời như ngựa hay bị chạm một roi; một lời đã nói ra, bốn ngựa cũng khó theo kịp."
(Nhơn nhi hữu tín như xa hữu luân, quân tử nhứt ngôn, khoái mã nhứt tiên; nhứt ngôn ký xuất, tứ mã nan truy).
Người xưa tuy quê hèn, nhưng giữ được tín thành, đối đãi nhau không bao giờ giả dối. Một tiếng ừ cầm đáng giá ngàn vàng, một lời hứa khư khư nắm giữ.
Người nay tuy văn minh tấn bộ, song kém tín thành, đến nỗi việc làm mà có nhiều kẻ chung lo, thường hóa ra hư hỏng.
Đức chí thành rất cần yếu cho sự thành công. Không thành thật, thì không phát hiện được sự gì thiết thực (Bất thành, vô vật).
Theo đường đời, đức chí thành còn rất cần yếu cho cuộc xử thế tiếp vật dường ấy, huống chi đường đạo là chỗ phải nêu cao tấm gương đạo đức?
Người hành đạo mà chí thành, không bao giờ hành động riêng tư, chỉ lo chung cho sanh chúng, tuyệt nhiên chẳng quản lợi danh; chỉ biết đem cả hình hài trí thức hy sinh cho tôn chỉ, cho danh thể đạo; cứ một lòng cúc cung tận tụy với chủ nghĩa mình luôn luôn theo đuổi, chẳng vì tư tâm, ngã kiến mà dắt đồng đạo qua con đường tà ám.
Khi tụng nguyện, nếu không chí thành, tụng nguyện luống công vô ích. Phải có thành mới có cảm, có cảm mới có ứng, có ứng mới có nghiệm (Hữu thành tắc hữu thần).
Phàm muốn chí thành, trước phải thành thật với mình, sau mới thành thật với người khác. Thành thật với mình là lấy công tâm xét đoán mình: từng lời nói từng ý tưởng, từng hành vi của mình, nhứt nhứt phải xét xem gắt gao kỹ lưỡng, để nhận thấy chỗ hay chỗ dở. Phải đủ can đảm nhìn nhận lỗi mình và phải biết phục thiện mới đến được chỗ hay.
Thành thật với người là tránh xa vọng ngữ, xảo trá, tham lam dua mị, là những tánh xấu xa, thô bỉ thường làm cho đức tánh con người phải tối tăm mà che lấp lẽ công minh.
Tuân Tử có câu: “Công bình sanh sáng tỏ, thiên lịch sanh tối tăm; làm việc đức sanh thông suốt, làm việc giả dối sanh ngăn lấp; thành tín sanh linh nghiệm còn khoe khoang xảo trá thì sanh lầm lạc”.
(Công sanh minh, thiên sanh ám, tác đức sanh thông, tác ngụy sanh tắc, thành tín sanh thần, đoản khoa sanh hoặc.)
Tóm lại, hoàn toàn thành thật với mình, hoàn toàn thành thật với người, đó là Chí thành, cái đức tốt trên tất cả đức tánh mà mọi người, dầu ngoài đời hay trong đạo, cần phải trau dồi un đúc đặng bước lần đến chỗ chí thiện.
Tu hành cốt để tìm phương cứu cánh là thoát nạn luân hồi, đặng trở về bổn nguyên, tức là tấn hóa đến chỗ duy nhứt.
I - Tấn Hoá
Luật thiên nhiên chi phối vạn vật trong Càn khôn Võ trụ là luật hoạt động. Trong trời đất, từ tinh thần đến vật chất, từ cái bổn thể tế vi thuần túy đến cái bổn thể thô sơ phức tạp, thảy thảy đều hoạt động tuân theo luật ấy.
Một vật mắt phàm chúng ta cho là bất động, như hòn đá chẳng hạn, thế mà mỗi nguyên tử (atome) trong những thành phần kết làm khối đá, vẫn luôn luôn vận chuyển.
Cái hình hài chúng ta bữa nay đối với vài ngày trước, tuy bề ngoài không thấy đổi thay, kỳ trung những tế bào cấu tạo cơ thể đã vì vận động mà đổi mới.
Thinh âm, ánh sáng, hơi nóng, điện khí, điện quang tuyến, vân vân đều là cách thức ba động (modes de vibration) của tinh lực và vật thể trong trời đất phát biểu ra, biến thành cái năng lực vận động vô cùng vô tận.
Trong trời đất, không một vật nào bất động. Bất động là chết.
Trái lại hoạt động là tấn hóa.
II- Duy Nhứt:
Vạn vật sở dỉ khác nhau ở hình thể cùng ở chỗ thanh trược, tinh thô, song kỳ thiệt vốn đồng một thể, vì một gốc mà ra. Muốn đi đến nguồn gốc vạn loại tức là chỗ “Duy nhứt”, chúng ta phải luôn luôn hoạt động không phân nhĩ ngã, nghĩa là không chấp cái nào là của ta, cái nào không phải của ta. Vậy là không ích kỷ.
Không ích kỷ, là không chấp trước. Không chấp trước, thì Tâm (Hồn) không duyên theo ngoại cảnh.
Những bực cao siêu minh triết đều dứt được lòng tham muốn mọi điều vui sướng thấp hèn ích kỷ, và luôn luôn hành động với chủ nghĩa vị tha, nên sống được cái đời tinh thần cao thượng, tự tại an nhàn.
Tóm lại, tánh ích kỷ sanh lòng dục vọng, lòng dục vọng là nguồn gốc của mọi điều thống khổ. Mà tánh ích kỷ phát sanh là bởi vô minh, không nhận thức cái chơn thể vạn vật là ở chỗ "Duy nhứt".
Vậy các phương pháp dùng đi đến chỗ hoàn toàn chí thiện là chỗ “Duy nhứt” cần phải căn cứ ở nguyên tắc:
Tuần tự tấn hóa bằng cách hoạt động không ích kỷ.
Do theo nguyên tắc ấy, Đại Đạo“T.K.P.Đ.” vạch ra hai con đường cứu cánh:
1- Con đường "Công quả" (Sentier de l’Action: Karma marga) là con đường chung cho tất cả bổn đạo phải trải qua đặng lập công quả 1 bằng cách quên mình phổ độ chúng sanh.
2- Con đường "Tự giác" (Sentier de la Connaissance: Jnâna marga) riêng cho bực thượng thừa cùng trí thức, sau khi công viên quả mãn.
Con đường "Công quả" là dễ đi hơn hết. Người hành đạo không buộc phải thông minh trí thức, không buộc làu thông kinh điển, miển là chí thành với đạo sẵn lòng phụng sự chúng sanh mà không cầu danh cầu lợi. Chỉ cần có đức tin và kiên tâm trì chí là chắc được đến nơi cứu cánh, khỏi sợ lầm đường lạc nẻo.
Những bực cao minh trí thức, tất nhiên chuyên chú về đường “Tự giác”, sưu tầm học hỏi nhiều kinh nhiều điển, để tìm chơn lý. Nhưng bao giờ cũng phải lấy công quả làm nền tảng cho việc tu hành, nhứt là phải trừ bản ngã là cái vô cùng chướng ngại cho đường tấn hóa.
Còn chấp ngã, thì dầu làu thông muôn kinh ngàn điển cũng khó mong thành đạo, kết cuộc không bằng một người thuở nay chưa từng xem kinh điển mà chỉ biết một lòng cúc cung, tận tụy với chủ nghĩa vị tha bác ái.
Cuộc tấn hóa của điểm linh quang khởi từ kiếp vật chất nầy chuyển qua vật chất khác, luân chuyển ngàn ngàn muôn muôn kiếp như vật rồi mới thoát kiếp vật chất mà tấn hóa lên kiếp thảo mộc. Đoạn thoát muôn ngàn kiếp thảo mộc mà tấn hóa lên ngàn muôn kiếp thú cầm, rồi mới chuyển qua kiếp nhơn loại. Đến kiếp người, Nhơn hồn còn phải luân chuyển ngàn muôn kiếp nữa mới tấn hóa lên đến tột bực nhơn phẩm.
Nhơn phẩm nơi địa cầu lại chia ra nhiều hạng. Thượng đẳng nhơn sanh nơi địa cầu 68 của chúng ta ở, kể luôn về vật chất với tinh thần, vẫn chưa bằng bực chót nhơn phẩm ở địa cầu 67. Đệ nhứt nhơn phẩm địa cầu 67 cũng chưa bằng bực chót nhơn phẩm địa cầu 66.
Giá trị mỗi địa cầu cứ tăng lên cho tới đệ nhứt cầu. Đó là kể về thế giới hữu hình.
Thoát khỏi thế giới hữu hình, Nhơn hồn bỏ xác phàm tấn hóa lên cõi siêu hình nhiều kiếp nữa cho đến khi trọn lành mới lên được Bạch ngọc Kinh mà Phật giáo gọi Niết bàn.
Xem đó thì biết phẩm trật con người nhiều là dường nào.
Nhơn hồn phải trải qua biết bao nhiêu kiếp mới được về nguyên bổn. Nếu kẻ không tu làm đủ phận sự công bình chánh trực, khi Hồn lìa khỏi xác, thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà chuyển kiếp lại nữa, thì biết chừng nào thoát nạn luân hồi?
Đức Chí Tôn lập Đạo, cứu cánh là mở ra cho nhơn loại một con đường giải thoát, lại còn ban ân huệ rất lớn lao đặc biệt cho cả Càn Khôn Thế Giới là "Ai ngộ được một đời tu cũng đủ trở về cựu vị".
Thánh huấn có câu: “Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế làm ra tiền của; ấy là phần xác thịt. Còn muốn đắc đạo, phải có công quả.”
Ấy vậy, điều kiện tối yếu của sự cứu cánh là "lập công quả."
Lập công quả vốn có nhiều cách, mà trọng yếu nhứt là phổ độ chúng sanh.
Trong sáu pháp Ba la mật (Paramita), tức là pháp lục độ của nhà Phật, đầu hết là pháp bố thí (Dana).
Bố thí đại để có hai cách dễ làm hơn hết là: tài thí và pháp thí.
Tài thí là xuất tiền của làm việc phước thiện, như tán trợ người khốn cùng túng ngặt được no cơm ấm áo, hoặc giúp đỡ kẻ bịnh nghèo được lành mạnh bình yên, hoặc cứu người hoạn nạn, vân vân... Ấy là cứu độ về phần xác.
Pháp thí là dùng lời đạo đức giảng giải cho người, chẳng luận bực nào, nghe mà giác ngộ; khuyên lơn kẻ hung tàn bạo ngược, xảo quyệt tham lam biết hồi tâm hướng thiện cho khỏi đọa lạc luân trầm. Ấy là cứu độ về phần Hồn.
Sự bố thí là đầu mối việc của chủ nghĩa từ bi bác ái. Đức Chí Tôn lập "Trường công quả" dạy chúng ta phổ độ chúng sanh, tức là dạy chúng ta phải thí tài và thí pháp đó.
Mỗi vị trong Đại Đạo "Tam Kỳ Phổ Độ" từ tín đồ đến chức sắc lưỡng phái, phải độ cho được ít nhứt là 12 người nhập môn (Thánh huấn ngày 27- 8- 26).
Tùy sức mình mà phổ độ. Dở thì nói đạo cho bực thấp nghe, hoặc lựa trong bà con thân thuộc, trong bạn yêu đương mà khuyên người mộ đạo. Giỏi thì giảng giải đạo lý cho hàng trí thức hiểu thông.
Mắc việc nhà ràng buộc, thì phổ độ trong lúc rảnh rang. Được rảnh rang, thì châu du thuyết đạo.
Chẳng nên hẹp tưởng chỉ có bực Thiên phong chức sắc mới có cái sứ mạng phổ độ chúng sanh. Thiên phong phổ độ với tư cách Thiên phong; tín đồ phổ độ với tư cách tín đồ. Ai lo công quả theo phận nấy. Lập công nhiều, đắc quả cao; lập công ít đắc quả thấp, đòn cân thăng thưởng thiêng liêng chẳng khi nào thiên lệch.
Nên biết rằng mình đi phổ độ, tức là mình tự lập quả vị cho mình, nghĩa là tự mình đoạt thủ đẳng cấp thiêng liêng của đức Chí Tôn sắp đặt nơi trường “công quả.”
Nếu rụt rè biếng nhác, chẳng chịu ra công nhọc sức, thì chẳng khác nào cử tử đến trường thi mà không làm bài nạp vở.
Đi phổ độ thường bị lắm khó khăn, trắc trở, và gặp nhiều nghịch cảnh dễ thối chí ngã lòng, cho nên cần có hai đức tánh sau nầy làm lá bùa hộ thân: nhẫn nhục và tinh tấn.
Người đi phổ độ còn phải thận trọng; lời luận giải của mình sao cho chánh đại quang minh. Chẳng nên vì một ý riêng mà bịa đặt điều dị đoan mê hoặc, làm sai Thánh giáo thất chơn truyền, trái ngược tôn chỉ và lý thuyết của Thiên đạo.
Cũng chẳng nên xu phụ theo phe, theo phái mà binh vực riêng tư, làm cho chúng sanh chẳng biết đâu mà nhận thức lẽ phải, rồi đâm chán nản vì không biết tín nhiệm vào đâu.
Dùng ngụy biện để qua mặt người, bày tà thuyết để mê hoặc chúng, phao yêu ngôn cho nhơn tâm xao xuyến, đó là những điều mà người đi phổ độ phải xa lánh. Bày âm phù thần chú cho người lầm tưởng mình có huyền diệu, đó là bước đầu vào nẻo dị đoan mê tín.
Phàm muốn độ người mình phải hành động cho minh chánh. Khi thuyết đạo, lời nói phải cân phân dè dặt, không khoe khoang tự phụ, nhứt là đừng xuyên tạc đạo nào khác mà phạm quyền tự do tín ngưỡng.
Đạo Trời là đạo chung, vì Trời chẳng riêng che, Đất chẳng riêng chở. Các sắc dân trên mặt địa cầu toàn là con một Cha, đồng thọ một điểm linh quang của đấng Chí Thiêng, cho nên chẳng luận màu da sắc tóc, không phân cao hạ sang hèn, phàm gần được người nào, bổn phận mình phải lo độ người ấy, dầu được hay không cũng vậy, miễn mình làm trọn thiên chức của mình là đủ.
Chẳng nên vì kẻ giàu sang mà lân la bợ đỡ, cũng chẳng nên thấy kẻ nghèo mà ít tới lui. Người đi phổ độ phải có cái lòng bình đẳng, nhứt là đối với kẻ nghèo hèn là hạng người chịu nhiều thống khổ, mình lại càng nên chiếu cố hơn. Nghèo nàn thiếu trước hụt sau, khổ tâm làm lụng, đem bát mồ hôi đổi lấy bát cơm, hạng người xấu số ấy cần có sự an ủi của mình.
Chúng ta phải lân la họ; khi đem tiền giúp đở khi đem đạo lý giải bày, đem lẽ huyền vi báo ứng mà phủ ủy, tức là chúng ta dùng linh đơn cứu chữa người trong những thống khổ về vật chất lẫn tinh thần.
Phải tùy trình độ trí thức người mà nói đạo. Với người quê dốt, nên lựa lời lẽõ giản dị và thiển cận mà giải bày; đem đạo lý cao siêu mà nói, thì không bổ ích vào đâu.
Thuở xưa, các vì giáo chủ mỗi lần thuyết pháp, đều tùy trình độ học thức của thính giả. Cũng thời một lý thuyết, song đối với hạng thấp thỏi các Ngài giải khác hơn đối với hạng thông minh, cao kiến.
Người ta đương an nhàn thỏa thích với sự giàu sang, hoặc giả đương khổ tâm cực trí với sự bần hàn túng thiếu, chúng ta cần phải chiều theo hoàn cảnh tùy phương tiện mà phổ thông Thiên đạo.
Với người sẵn có đạo tâm, thì phổ độ dễ dàng; đến như gặp kẻ cương ngạnh, không đạo tâm, không tín ngưỡng, thì rất khó khăn, chúng ta cần phải kiên tâm trì chí. Nếu may mà độ được, thì công đức rất lớn, là vì chẳng những chúng ta cứu vớt linh hồn người ấy khỏi luân trầm, đọa lạc, mà xã hội cũng bớt một phần tử xấu xa.
Tóm lại, phải tùy phương tiện, tùy hoàn cảnh, tùy tâm lý người mà nói đạo. Phải nhẫn nhục, tinh tấn và minh chánh mới mong độ được người.
Nơi tòa Phán xét (Conseil des Lipikas ou Seigneurs du Karma), từ những hành vi cho đến những lời nói của chúng ta, nhứt nhứt điều ghi chép hẳn hòi. Cho nên một mảy không qua, dữ lành đều báo ứng.
Luật nhơn quả rất mực công bình, mà sự hành luật lại là chặt chẽ. Thế thì con người ở cõi phàm gian, với những hành động hằng ngày, tránh sao khỏi tội tình, nghiệp báo?
Tạo nhơn tất thọ quả, con người cứ hết trả rồi vay, thì thế nào thoát nạn luân hồi?
Nhưng mỗi kỳ khai đạo là mỗi lần Đức Chí Tôn đại ân xá, nghĩa là ban cho những người vào đạo một ân huệ lớn lao là bôi xóa tất cả tội lỗi của họ đã làm từ mấy kiếp trước. Nhờ vậy người tu mới được rảnh nợ tiền khiên, ra khỏi vòng nhơn quả, chỉ lo lập công bồi đức và trau dồi đạo hạnh cho hoàn toàn là đắc đạo trong một kiếp tu.
Hạ Ngươn nầy, đức Chí Tôn khai đạo kỳ ba, nên mới có đại ân xá kỳ ba (Troisième Amnistie de Dieu).
Phép "Giải oan" và phép "Bí tích" của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được đem ứng dụng theo sự ban hành luật đại xá đó vậy./.
Index 
