|
Hai chữ Nhân Quả là danh từ mà Tiên Nho đã đề; Chữ Nhân Quả: "Nhân" theo nghĩa chánh của nó là chỉnh lại hay dò lại, nói luôn theo chữ Quả thì chữ Nhân ấy đồng khuôn chữ đại. "Quả" là chắc chắn mạnh mẽ, chúng ta thường hay dùng tiếng quả quyết lắm, dùng chữ quả quyết hay là mạnh mẽ chẳng hạn.
Chữ Nhân Quả dịch ra tiếng Phạn là tiếng Karma, thiệt tiếng Phạn có nghĩa là: Làm cái chi phải trả cái nấy, phải bồi thường, ta có thể hiểu nó là khuôn luật “Vay trả” đó vậy.
Khuôn Luật ấy huyền bí vô cùng, tại liên hệ với chữ “Dharma”. Quyền Chí Tôn tiếng Phạn đề “Boudha, Shama, Saya”. Tức nhiên câu niệm của chúng ta: Phật, Pháp, Tăng. Tiếng Karma liên hệ với Pháp như thế ấy, có định luật Thiêng Liêng của nó, vì không thể lấy trí khôn ngoan của chúng ta mà suy đoán luận biện cho đặng.
Chúng ta thấy cũng như cả toàn thể từ xưa đến giờ dầu cho bực Thánh Nhân Hiền Triết ta để con mắt quan sát tiềm tàng thấy khuôn Luật ấy nó vô hình mà nó quả quyết làm sao, chắc chắn làm sao.
Người ta tìm khuôn Luật ấy thì thấy rằng:
Có một Quyền năng vô đối là quyền năng của Ðức Chí Tôn, tức nhiên Ðấng tự hữu kia để trong tay Ðấng đó mới có thể cầm quyền về khuôn Luật đó mà thôi.
Bởi sự quan sát ta thấy Luật Nhơn Quả ấy về cá nhân cũng thế, gia đình cũng thế, xã hội cũng thế, mà nói chung toàn thể nhơn quần trên mặt địa cầu nầy cũng thế. Nhân Quả ấy, người ta đã tìm hiểu thấu đáo, hễ càng tìm tòi càng thấy kinh khủng làm sao.
Tỉ như một gia đình, trong một cơ quan tạo dựng gia đình ấy, nó do nơi ác hành tạo dựng thì gia đình ấy chẳng hề tồn tại. Một xã hội nào, một quốc dân nào do nơi ác hành mà tạo nghiệp, thì xã hội đó quốc dân đó không bao giờ bền vững.
Nếu chúng ta không nói quả quyết rằng nó sẽ bị tiêu diệt mà chớ. Nhơn quần và cả nhơn loại giờ phút nầy chúng ta thấy quả quyết làm sao không thể gì luận được.
Luận về Nhơn Quả cá nhân ta hay một đại nghiệp ta nói: Tỉ như Tần Thủy Hoàng, muốn đem văn hiến của Ân thay thế văn hiến Nho dám đang tay khi Nho, đốt sách chôn học trò, tưởng thi hành thủ đoạn ấy tiêu diệt nhà Nho được, chúng ta thấy nhà Nho vẫn còn, còn cơ nghiệp của Tần đã bị tiêu diệt, Bần Ðạo không nói cả cơ nghiệp của Tần mà thôi, mà cả cá nhân của Tần Thủy Hoàng cũng vậy. Ngài Sở Bá Vương vô lấy Ly Sơn rồi biết Tần Thủy Hoàng chôn nhiều vật báu, khi đào lên thì của báu ấy đã tiêu hủy.
Chúng ta tưởng coi có một đại cơ nghiệp của nhà Hớn, Hớn Bái Công đã lấy Tánh đức lập nghiệp, lấy Nhơn Nghĩa làm căn bản tới 800 năm, khi đến nạn diệt tận rồi cũng còn Hớn Hiến Ðế nối nghiệp, qua Hớn Chiêu Liệt tức nhiên Lưu Bị biết khí số nhà Hớn đã mãn, muốn kiếm phương kéo dài mảy mún, tức nhiên để lại cho Hậu Chúa một đôi giáp quí vô cùng, Ngài nói với Hậu Chúa tức nhiên Á Ðẩu rằng:
- Vật dĩ ác tiểu nhi vi chi,
- Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi.
(Nghĩa là đừng vì ác nhỏ mà làm và cũng đừng vì thiện nhỏ mà không làm).
Về cá nhân hay xã hội đều đứng trong khuôn Luật ấy cả.
Bây giờ nói về Tôn giáo thì Ðức Phật Thích Ca cầm Bình Bát Vu đi ăn xin đặng nuôi kẻ nghèo nàn đói khó nơi “Cấp cô độc viên” mà cái Ðạo của Ngài tới 2.500 năm vẫn còn bền vững, nó vẫn giàu có, cả văn minh Phật Giáo đã truyền bá toàn cõi Á Ðông nầy, nếu chúng ta thấy của cải vô biên vô tận của nó, chúng ta thấy không thể gì tính toán được (Vô toán).
Thêm nữa Ðấng chịu khổ nhục đi ăn xin từ bữa, chịu hèn hạ ấy lại còn bị chúng bắt đóng đinh trên cây Thập Tự Giá. Bị lên án là kẻ côn đồ, kẻ hung bạo, kẻ cướp bóc. Ðấng ấy đã tạo Ðạo của Ngài. Giờ phút nầy nếu cả toàn mặt địa cầu nầy cũng chưa có ai sang cả cho bằng.
Nhơn Quả của một người tạo nghiệp hay Nhơn Quả của vị tạo Ðạo; hai cái đó trọng yếu vô cùng không thể gì luận được.
Nãy giờ nói của người ta, bây giờ mình phải nói tới của mình. Ðức Chí Tôn nói với môn đệ của Ngài: Ngài lấy kẻ nghèo khó, hạng nhứt là Ngài đến với một quốc dân hèn hạ, quốc dân còn bị lệ thuộc của người, làm tôi đòi thiên hạ, Ngài lấy phần tử ấy làm Thánh Thể của Ngài mà tạo nền Chơn giáo, Ngài lấy Quốc dân nô lệ trong giờ phút tạo nghiệp của Ðạo.
Cả con cái của Ngài tạo dựng nên hình tướng của nó, không cướp bóc của ai không cầu lụy ai cho mình mà làm cái nhân ấy quí báu làm sao, lại nữa người tượng trưng lấy nó, cơ thể hữu hình là người chủ quyền lo tạo dựng nó, thân phải hèn hạ truân chuyên, bị thiên hạ áp bức đè nén hiếp đến nỗi thân của họ bị đồ lưu, tù tội, cái nhục nhã hèn hạ của họ, ngày nay đem vô Luật Nhân Quả thế nào? Thì toàn thể con cái của Ðức Chí Tôn luận lại thì hiểu.
* Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Luật Nhân Quả (Tiếp theo)
Thuyết Ðạo QV / tr. 49
(Ðêm mùng 8 tháng 4 năm Ất Mùi-1955)
Nguơn Linh của Long Nữ đã theo hầu Ðức Quan Âm Bồ Tát mấy kiếp đã đến Trần thì căn Phật của Người vẫn thế, Bần Ðạo xin thuyết Triết lý Ðạo Phật của Ðức Phật Thích Ca, Ngài đã đoạt Ðạo đặng rồi tức nhiên Chị hiểu cái huyền vi bí mật của kiếp sanh con người, Ngài tầm ra căn nguyên bí yếu hơn hết là Luật Nhơn Quả Pháp định (Loi Karmique), cái Luật Nhơn Quả của Ngài nó trúng trong Chơn lý lạ thường, thử ta chối con người không có quả kiếp chi hết cũng như thuyết Duy Vật đã nói, con người đã sinh ra ở mặt thế nầy là tình cờ mà thôi, sống như vạn vật kia vậy, nếu cái Thuyết ấy quả nhiên là Chơn lý thì ta thử hỏi vậy chớ duyên cớ nào kẻ sanh ra vừa khỏi lòng mẹ đã nằm trên đống vàng hay là ngự trên ngai vàng, còn những kẻ sanh ra đã bị tật nguyền, đui mù, ngu dại.
Nếu không có định luật thiên nhiên Công Bình vô đối của Ðại Từ Phụ tức nhiên của Ðức Chí Tôn thì lẽ bất công ấy chúng ta phải giải nghĩa ra thế nào mà chớ? Cái Triết lý bí yếu ấy, Ðức Thích Ca đã tìm đặng tức là Nhơn Quả của ta.
Nhơn nghĩa là ta đã làm điều chi thì Quả của nó trả trở lại. Cái Luật Nhơn Quả ấy, nó là căn kiếp sống của ta. Có nhiều kẻ cả đời làm lụng nhọc nhằn vợ con đông đúc, cả mọi điều gì muốn thi thố ra đều thất bại mà cái thất bại ấy chẳng phải dở, cái miệng những kẻ ấy thường trong cơn đau khổ nói số kiếp của tôi nó như thế nào, tội tình gì mà làm cho tôi như thế đó, là kẻ bên Ðạo Phật. Các Tôn giáo khác không cần luận, ta thấy họ đã quyết định cái quả kiếp là gì, Phật đã nói:
“Cái kiếp sống đương nhiên của ta, định số phận của ta đương kiếp sống hiện thời là do căn quả của ta đã tạo kiếp trước, bây giờ cái Triết lý ấy biểu ta muốn cho nên kiếp tới, kiếp nầy ta chẳng nên gây Nhân Quả nhiều hay nặng nề.
Vì cớ cho nên những bổn đạo cùng những người Tín ngưỡng theo Triết lý của nhà Phật, khi họ thấy căn kiếp của họ đã nhiều bằng cớ không may, hoặc về tình ái, hoặc về sanh kế, hoặc về công danh, hoặc về nghèo giàu, bất kỳ quả kiếp của con người ta thường nương lấy đó mà sống, làm cho cái khổ của con người đã sanh ra chịu khổ rồi quả kiếp nặng nề ấy lại tăng thêm khổ nữa.”.
Bây giờ quá sức chịu của trí não con người phải làm sao, hễ khi nào bị khổ não quá chừng thì tìm phương pháp an ủi, bởi cớ cho nên nhà Phật là nhà an ủi tâm hồn của những kẻ đau khổ hơn hết đặng tự giác lấy mình, hiểu cái quả kiếp mà mình đã đào tạo, vì tại mình vi chủ tạo thành nó ra, bây giờ tìm phương giải nó đi tức nhiên tránh kiếp tới, nếu ta đã biết kiếp nầy không may để ta trả nó mà thôi, ta đừng gây thêm quả kiếp nữa.
Bởi cớ cho nên nam cũng vậy, nữ cũng vậy, cạo đầu phế cả cái sống của mình gọi là Qui Y thọ Pháp vô chùa gởi thân trong cửa Phạm của Ðức Phật Thích Ca đặng tìm phương an ủi hay là hay hơn nữa đủ trí thức, đủ tự giác để đào tạo cái quả kiếp tương lai của mình, thật ra chơn lý ấy của nhà Phật an ủi một cách mạnh mẽ các tâm hồn bị đau khổ. Chính Phật cũng nhờ Triết lý ấy mà nhiều phen đã tự an ủi mình làm một Phật vị, bởi chính mình Ngài muốn tạo một lớp Liên Hoa của Ngài, Ngài phải đầu kiếp làm Thảo mộc, lên Thú cầm tới Nhơn loại rồi đến Phật vị, thì tức nhiên trọn cái vòng siêu thoát của Ngài.
Ngài đã biết nhơn loại, biết kiếp sống của con người đau khổ như thế nào, thật có sống với đời mới biết cái khổ của đời. Những tay thầy thuốc giỏi hay biết được bịnh con người một cách đúng đắn mực thước thì chính mình ông phải có bịnh đó, ông tự thí nghiệm bào chữa chứng bịnh của ông, rồi ông mới đoạt được lịch thi của ông không thế tưởng tượng.
Ðức Phật Thích ca cũng thế, Ngài cũng sống, Ngài đã chịu trong cái Luật Quả Kiếp ấy luân chuyển từ vật hình dĩ chí cho tới Phật vị, cái quả kiếp của Ngài nó phải chơn thật không thể tưởng tượng được, không thể bỏ nó ra, không có cái Triết lý nào giải nghĩa kiếp sanh con người cho nó mực thước hết.
Bây giờ xin luận về Thuyết Duy Vật nói loài người là một giống khỉ tiến hóa lên chớ không phải Trời sanh ra, Bần Ðạo nhìn trở lại sắc dân của Ấn Ðộ, chính mình Phật Thích Ca là dân của Ấn Ðộ, dân da đen gọi là Hắc Chủng, Ngài sanh ra ở đó, da thay vì đen nó hơi hồng hồng, rồi người đời tặng Ngài màu hồng, họ gọi Ngài là Kim Thân, vì cớ cho nên các tượng hình của Ngài đều phết vàng, bởi tại hai chữ Kim Thân ấy, chính Ngài là sắc dân da đen mà sắc dân da đen là một chủng tộc đến mặt địa cầu nầy sớm hơn hết.
Chúng ta thử xét đoán nếu quả nhiên là loài khỉ tấn hóa lên cho tới sắc dân hắc chủng ấy có đâu đầu óc của họ có quá chừng quá đỗi, tâm thần quán thế như thế đó, nhứt là đặc biệt hơn hết các Triết lý cao siêu về mặt vô hình, dân Ấn Ðộ đứng đầu hơn hết các chủng tộc. Nó trái ngược lại những tộc chủng đã noi theo Luật tiến hóa, nhứt là chót hết bây giờ là Bạch Chủng.
Tôi thấy họ đã tiến hóa nhiều từ Hắc Chủng lên Thanh Chủng tới Xích Chủng đến Huỳnh Chủng rồi tới Bạch Chủng. Ðường tiến hóa của nhơn loại nhiều quá, sâu xa lắm, tới chừng dòm lại sắc dân Bạch Chủng kia cũng không phải hơn gì sắc dân Hắc Chủng vì Hắc Chủng người đã đến mặt địa cầu nầy hồi ban sơ hết, hay nói là Mẹ của các giống người hết thảy nơi thế gian nầy mà người ta cao siêu như thế đó thì chính mình Bần Ðạo không tin loài khỉ tiến hóa lên được, cái Lý thuyết ấy vô lối, nếu không nói là quái dị, hay đặt cho nó cái tiếng là quái gở.
Cái Triết lý của nhà Phật từ thử tới giờ chưa có một vị Giáo chủ nào đã đoạt Pháp mà biết cái bí ẩn Thiêng Liêng của Luật Thiên nhiên kia một cách chánh đáng như thế, chơn thật như thế, có một điều chính mình trong sự Luân Hồi quả kiếp ấy Ðại Từ Phụ đã làm chứng trong bài thơ của Ngài:
Ðài Vân Quan Võ để Phong Thần,
Còn của Thầy đây để nhắc cân.
Muôn phước ngàn lành không sót một,
Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần.
Nói như thế đó, chính mình Ðại Từ Phụ đã nói rằng: Quả Kiếp Nhơn Quả của con người, Luật ấy hiển nhiên vẫn có thiệt đó vậy.
Thuyết Ðạo Q.VI, trg. 280.
Index 
