LỄ NGHI - LUẬT ĐẠO

"GIỚI"
(Tiếp theo)
* Tác-giả: HT. Lê văn Thêm (Tự Bạch - Y)

______

    
PHẦN II- NHỮNG NÉT VI-TẾ VỀ GIỚI "VỌNG- NGỮ"

     Vọng-ngữ do lời nói tức ngôn-ngữ. Ngôn-ngữ có những đặc-tánh rất vi-tế mà nhiều tôn-giáo có nói đến.
    
     I- NGÔN-NGỮ VỚI CÁC TÔN-GIÁO
    
     Ngôn-ngữ thật vô-cùng quan-trọng đối với tín-đồ các tôn-giáo. Người tín đồ hiểu đạo mà không thận-trọng trong lời nói, giới vọng-ngữ chẳng giữ gìn, thì cũng chưa xứng đáng với sự hiểu đạo của mình. Cũng như người nói đạo ma giới không giữ thi lời nói sẽ không diệu-dụng được.
    
     Người tu cần phải cẩn-thận trong ngôn-ngữ, vì dù có hiểu đạo, nói được người khác hưởng ứng, nhưng mình lại không giữ-gìn giới-luật, thì lời nói đó chưa chắc cứu được mình.
    
     Do tính-cách quan-trọng của lời nói mà các bậc Thánh-Nhân, các vị Giáo-Chủ luôn luôn kêu gọi người đời hay nhăc-nhở tín-đồ nên thân-trọng cẩn-ngôn.
    
     1- Với đạo Khổng, Đức Khổng Phu Tữ có dạy:
     -“Cổ giả ngôn chi bất xuất, sỉ cung chi bất đải giả.” Tức người quân tử nên cẩn-thận lời ăn tiếng nói của mình nói ra, vì sợ chẳng kịp lời nói mà hổ thẹn.
     -“Quân tử vô sở tranh, tất giả xạ-hồ.” Tức quân-tữ tránh tranh-luận, nếu phải tranh luận thì cung kính lẩn nhau như khi bắn thi vậy.
    
     2- Với đạo Lão, Đức Lão-Tử trong Đạo Đức Kinh cũng có dạy như sau: “Thị-dĩ Thánh Nhân xữ vô-vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo.” Tức bậc Thánh Nhân xữ sự theo thái-độ vô-vi, không nói mà chỉ hành-động để-dạy người
    
     3- Với đạo Chúa, lấy yêu thương làm gốc, đức Ki-Tô dạy rằng:
     “Nếu người anh em con có lỗi với Chúa Trời con hãy sữa trách một cách khôn ngoan. Trước tiên con hãy thực tình mách bảo, mách bảo riêng một mình con với một mình người có lỗi. Nếu người đó nghe con mà sữa đổi, ấy là con đã cứu được người anh em con.
    
     Nhưng nếu chẳng may con không làm được việc, nghĩa là người đó nhất dịnh không nghe con, lúc ấy con hãy đem lại hai ba người đến với con, để nhờ sự chứng kiến của mấy người này, công việc của con được chắc chắn.
    
     Vậy con hãy thực tình khuyên anh em con, hãy dùng tiếng nói của lòng nhân-từ và vận-động mọi sách để chinh-phục người có lỗi, nhưng không dược tiết-lộ và tuyên-truyền làm mất phẩm-giá của người ta.”
     Với Khổng giáo, Lảo giáo, Thiên Chúa giáo, các đấng Giáo-Chủ đều dạy tín-đồ trước tiên phải cẩn-thận trong lời nói. Nếu phải nói thì nên nói với từ tâm, nho-nhả, ôn-hòa và trung-chính.
    
     4- Riêng đạo Cao-Đài, giới vọng-ngữ được đặc-biệt chú trọng nhiều hơn vì ngôn-ngữ có thể gây khẩu nghiệp.
     Chính để tránh khẩu nghiệp, một trong ba nghiệp dễ trở thành định nghiệp dẫn dắt luân hồi mà trong đạo Cao-Đài, giới vọng-ngữ được chi-tiết-hóa rõ-ràng và đầy đủ.
    
     Ngoài ra, cũng như đạo Lảo với lời dạy “hành bất ngôn chi giáo”, đạo Cao Đài trong Kinh Thiên Đạo có câu “Bất ngôn nhi mặc tuyên đại-hóa”
    
     và Kinh Nhập Hội, phần Thế-Đạo cũng có câu “Câu Kinh vô-tự độ người thiện-duyên”. Kinh vô-tự đây là Kinh không chữ, kinh vô-ngôn, không thể dùng văn-tự ngôn-ngữ để điền đạt được mà chỉ có thể diễn đạt bằng giới-hạnh, đức-hạnh và bằng tâm của người tu thôi.
    
     Tóm lại, với việc chi tiết hóa rõ ràng, đầy đủ giới vọng-ngữ, hơn thế nữa, cũng như đạo Lảo “Hành bất ngôn chi giáo,”
    
     Đạo Cao-Đài với “Câu Kinh vô-tự độ người thiện duyên” và “Bất ngôn nhi mặc tuyên đại-hóa” đã dạy tín-đồ tường tận những nét đặc-trưng và vi-tế về giới sẽ được trình bày ở phần kế tiếp sau đây.
    
     II- ĐẶC TRƯNG NGÔN-NGỮ TRONG NGŨ-GIỚI CỦA ĐẠO CAO-ĐÀI:
    
     Ngũ-giới đạo Cao-Đài trên tổng-thể cũng giống như ngũ-giới của đạo Phật hay mười điều răn của đạo Chúa. Dù vậy, nếu nghiên-cứu kỹø thì có những điểm cần được đặc biệt lưu ý. Chính những điểm đặc-biệt này tạo nên một trong những nét đặc trưng của đạo Cao Đài.
    
     Nhiều nét đặc-trưng khác của đạo Cao-Đài xin được lần lượt trình bày sau, riêng bài viết này chỉ nói về ngũ-giới.
    
     Theo đạo Phật, ngũ-giới gồm có: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo và uống rượu. Mười điều răn của đạo Chúa-dù không hoàn toàn-giống y ngũ-giới nhưng cũng có nhiều điểm tương-đồng.
    
     Trong đạo Phật, giới cấm thứ tư là nói láo. Đệ-tử Phật-giáo được dạy không nên nói láo mà phải nói thật, dù rằng cũng có vị Hòa-Thương hay Thượng-Tọa giai rộng thêm hơn, nhưng tựu trung chỉ chú trọng đặc biệt vào một điều, đó là “cấm nói láo”.
    
     Đạo Cao-Đài, trong phần vọng ngữ, có bốn điều cấm rõ rệt:
    
     1.- Vọng Ngữ: Không được láo xược tức không được nói láo
    
     2.- Xảo-Ngữ:
    
     Không được nói xảo trá, gạt gẩm người,
     khoe mình bày lỗi người,
     chuyện quấy nói phải, chuyện phải nói quấy, tức không được nói thêu
     dệt, diển dịch lời nói của người khác theo hậu ý riêng của mình,
     không được dùng lời nói để che đậy ác ý của mình hoặc nói bóng bảy
     để dụ dỗ hay xúi dục người khác làm điều xằng bậy.
    
     Tóm lại, không được nói thêu dệt
    
     3.- Lưỡng Ngữ:
    
     Không được nói hành kẻ khác;
     không được xúi dục người hờn giận,
     kiện thưa xa cách, tức không được nói đâm thọc với mục-đích gây
     bất hòa, tạo chia rẽ và thù nghịch.
    
     Tóm lại, không được nói như có hai cái lưởi.
    
     4.- Ác Ngữ:
    
     Không được nhạo báng, chê bai,
     nói lổ-mảng, thô tục, chười rủa nguời,
     hủy-báng tôn-giáo, tức nói những lời chanh-chua độc-ác.
    
     Tóm lại, không được nói lời độc ác.
    
     A- Đặc Trưng I:
     Chi-tiết-hóa ngôn-ngữ với vọng-ngữ, xảo-ngữ, lưởng ngữ và ác ngữ cho thấy ngũ-giới đạo Cao-Đài đặc biệt chú trọng vào lời nói.Chính lời nói làm cho người tu dễ phạm giới nhất mà nhiều lúc hầu như không hề hay biết.
    
     Nếu phạm bốn điều thuộc về ngôn-ngữ nêu trên là đã phạm vào bốn điều ác trong thập ác. Xa rời bốn điều ác này là bước đầu đi vào bốn điều thiện trong thập thiện.
    
     Như vậy, ngũ-giới đạo Cao-Đài không những chỉ là ngũ-giới thôi, mà đúng ra là bát (8) giới hay thất (7) giới trong giáo-pháp Thập Thiẹn. Người tu giữ được thất giới này là đã bắt đầu hành trì thất thiện, chỉ cần tu thêm tam thiện nữa thì sẽ được siêu thăng, thiên đàng liền đến. Đây là đặc trưng thứ nhứt.
    
     B- Đặc Trưng II:
     Đặc-Trưng thứ hai trong ngũ-giới đạo Cao-Đài là sự chú-trọng toàn diện vào thân-nghiệp, khẩu nghiệp và ý-nghiệp, không giống như đạo Phật đặc biệt nhân mạnh vào thân nghiệp và chỉ một Khía cạnh “nói láo” của khẩu nghiệp mà thôi. Chính ở ý nghiệp và khẩu nghiệp mà con người rất dễ sai phạm.
    
     1.- Về ý nghiệp: Người tín đồ trì giới du đạo ngoài việc không được trộm cắp, còn bị cấm không được sanh lòng tham của quấy, để ý hại người. Như vậy, ngay tại ý phát sanh ác-nghiệp tham lam, người tín-đồ cũng không được phạm.
    
     - Về giới tà dâm, ngoài việc cấm lấy vợ chồng người, thả theo đàn điếm, người tín-đồ còn bị cấm không được thấy sắc dậy lòng tà. Lòng tà đây là ý-nghiệp, dù rằng khẩu chưa tác động, thân chưa thực hành nhưng đã có ý thì bất định nghiệp cũng đã hình thành.
    
     2.- Về Khẩu nghiệp: Không được lường gạt của người tức dùng lời nói hay mưu chước chiếm đoạt cuả cải tài sản người khác; không dược dùng ngôn-ngữ xúi dục người làm loạn luân-thường hoặc lấy lời gieo tình huê-nguyệt.
    
     Nói khác hơn, dùng lời nói để toan lường gạt của người, xúi dục tà dâm hay gieo tình huê nguyệt là đã mang lấy khẩu nghiệp rồi.
    
     Tóm lại, ngũ giới Đạo Cao Đài, ngoài thân nghiệp còn chú trọng đặc-biệt vào ý-nghiệp và nhất là khẩu nghiệp. Với thân nghiệp, người tín-đồ dễ thấy và dễ tránh nên đã không sát sanh, trộm cướp tà dâm. Nhưng với khẩu nghiệp, đây là phạm-vi mà nhiều người thường hay phạm.
    
     Giáo-lý, hay nói rõ hơn Ngũ giới đạo Cao Đài đặc-biệt nhấn mạnh vào phạm-vi khẩu nghiệp. Đây là đặc-trưng thứ hai nhằm dạy tín-đồ không những tránh nghiệp ở thân, mà quan trọng nhất là phải tránh nghiệp ở khẩu. Nghiệp thân và khẩu là hai loại nghiệp nếu phạm vào có thể tạo thành định nghiệp, nguyên nhân dẩn dắt luân-hồi.
    
     Đã biết tạo khẩu nghiệp có thể phạm vào định nghiệp dẫn đến luân-hồi, ấy vậy mà vẫn có người thường phạm phải là tại sao? Tại vì con người luôn luôn quen noi và hay nói.
    
     Nhưng lời nói có thật hay không? Để trả lời câu hỏi này, và cũng để phá chấp danh-ngôn, xin được lạm bàn về thật tướng của lời nói với những nét vi tế của nó
    
     III- NHỮNG NÉT VI-TẾ CỦA NGÔN-NGỮ:
    
     Ngôn-ngữ hay văn-tự là những ước-lệ do người đời đặt ra-để dùng cho một nhóm người, một địa phương một bộ-lạc, hay một dân-tộc nào đó. Người đời ghép những chữ thành câu, những tiếng thành lời để diển tả những ý-nghĩ, hành-động, thói quen, tập-quán-v.v. Tùy theo địa-phương, bộ lạc hay dân-tộc mà lời nói hay văn-tự được gáng cho một ý-nghĩa nào đó mà người đời chấp theo để rồi tạo nghiệp.
    
     Thật ra, lời nói hoặc văn-tự là những pháp hữu lâu và tương-đối, không có thực-thể, không diển tả được Chân Lý Tuyệt Đối, vô lâu. Dù vậy, thói thường người đời ai cũng thích nghe lời nói thuận tai, tránh nghe lời noiù nghịch tai mà đã quên quán-chiếu bản thể lời nói là không thật, chỉ do duyên hợp mà thôi.
    
     Thật vậy, ngôn ngữ, lời nói, kể cả văn tự, bản thể của nó là không. Không đây là không có tự tánh, tức tự tánh của nó không thật, chớ chẳng phải là không ngỏ, không có gì hết. Nói khác hơn, ngôn ngữ hay lời nói tự tánh của nó là không nhưng do duyên hợp nên giả có mà thôi.
    
     Để lý-giải tánh không của ngôn-ngữ hay lời nói, xin được đơn cử những thi dụ và hình ảnh như sau:
    
     A.- Ngôn Ngữ tự tánh là không:
    
     Thí dụ: Có một anh nọ cha mẹ đặt tên là Hiền nhưng anh ta không hiền tí nào cả. Anh thường làm những điều ác, xâm-phạm luân-thường đạo-lý-v.v. Như vậy, tên Hiền mà người đời thường dùng gọi anh, để gáng vào cho cái tâm sân-si, các thân tham-lam độc-ác của anh đó chỉ là danh-ngôn giả-lập hoàn-toàn trái ngược với bản-chất của con người anh.
    
     Nói khác hơn, tiếng gọi, danh-ngôn không diển tả đúng bản-thể, và bản thể lại hoàn-toàn trái ngược lại danh-ngôn, lời gọi tên đặt. Nói rõ hơn, tên đặt, tiếng gọi, lời nói, danh-ngôn, chỉ là giả danh chớ không thật nghĩa. Nó không có tự tánh đúng như người ta đã gáng cho nó.
    
     Thí dụ thứ hai: ta nói cái đồng hồ. Tự lời nói ấy không phai là cái đồng hồ mà thật ra đồng hồ là đeo trên tay, để trên banø, treo trên tường, chùơ lời nói nào phải cái đồng hồ. Vậy lời nói chỉ là giả-lập, duyên hïợp chữ đồng và chữ hồ để tạo thành một giả-tướng đồng hồ chớ tự tánh của nó, tự bản thể của lời nói không phải là cái đồng hồ.
    
     Thí dụ thứ ba: Anh A nói anh B là con chó. Sự thật anh B nào phải là con chó mà là con người. Vậy khi anh A nói anh B là con chó thì anh B có trở thành con chó không, có mọc đuôi, mọc bốn chân hay vì hai chân không. Chắc chắn là không. Thí dụ này một lần nữa cũng cho thấy ngôn ngữ hay lời nói chỉ là danh ngôn chớ không có thực nghĩa, không có tự tánh.
    
     Các thí dụ nêu trên chỉ rõ lời nói tự bản-thể nó là không gì cả. Lời nói dùng để chỉ một cái gì (như cái đồng hồ) chớ tự nó không phải là cái đó; hoặc lời nói dùng để khen, chê, chưỡi, rủa-v.v. như trường hợp anh A chưởi anh B là con chó, nhưng thật ra anh B đâu phải là con chó mà là con người.
    
     Vậy là anh A duyên hợp lời nói dùng tiếng con và tiếng chó để tạo ra một giả Tướng sai sự thật. Đã biết là sai, là quấy rồi, vì chưởi của là sai quấy, là ác khẩu, là tạo nghiệp, tại sao người ta lại cải vả gây gổ và đôi khi có thể đi đến ấu đả nữa. Đã biết A nói sai quấy, sai sự thật thì lẽ ra B nên thấy rằng A vì điên loạn nói bậy không đúng, vậy bỏ đi.
    
     Bây giờ B lại gây gổ với A. Như vậy, có phải B đã tự mình dấu thân vào chuyện điện đảo, chuyện sai, chuyện bây không. Nếu cải vả hay ấu đả nhau thì ai cũng sẽ quấy cả, chỉ có quấy trước hay sau, nhiều hay ít mà thôi.
    
     Thế nhân thường vấp phải những chuyện như thế này là vì do chấp: chấp ngã, chấp danh ngôn. Đây là hai thứ chấp đã làm cho người ta điên đảo, đau khổ. Ngày nào con người còn chấp thì phiền não và khổ đau vẫn còn.
    
     Để phá chấp, người tu cần phải thấy rõ thật tướng của sắc thân, vọng tâm và danh ngôn. Tất cả ba đều là sanh diệt tức có rồi mất, không thường hằng. Nhằm thấy rõ sự vô thường của cả ba đều HƯ chớ không phải THẬT hầu tránh phát ra ác ngôn, tạo ác nghiệp, người tu cần phải rõ lý trong kinh tụng đọc hằng ngày và nên nghe theo lời Đức Hộ Pháp dạy, phải thường xuyên Hồi Quang Phản Chiếu, vì như Đức Ngài đã nói: “…quan sát lại mình và hành tàng của thế nhân ra sao…rồi gẩm lại ta đang ở cảnh HƯ hay THẬT.”(xin xem bài viết về HQPC)
    
     B- Ngôn Ngữ do duyên hợp chớ bản thể là không:
     Thật vậy, ngôn ngữ bản-thể của nó là không, chỉ do duyên hợp mà thành. Như một người khan tiếng đến tắt tiếng thì làm sao nói được. Người câm, người bị thụt lưởi, hay bị cắt mất cái lưởi thì cũng không nói được.
    
     Một người khác, nếu cứ mím chặt cứng đôi môi thì làm sao phát ra thành lời. Nói như vậy để thấy rằng lời nói tự nó không có mà do duyên hợp của môi, lưởi, âm thanh, óc, cổ, họng, phổi, lồng ngục hợp lại mới tạo thành được. Nếu một trong tám yếu tố nêu trên mất đi thì tiếng nói cũng mất theo. Nói khác hơn, lời nói tự bản-thể của nó là không mà chỉ do duyên hợp nên giả có mà thôi.
    
     Vạn pháp trên thế gian, kể cả thân xác này cũng vậy, đều do duyên hợp. Hề duyên còn hợp thì vẫn còn mà duyên tan thì bại hoại ly tán, là mất. Lời nói cũng thế. Nếu tám yếu tố tạo thành ra nó còn thì nó còn, nhưng nếu một trong tám yếu tố tạo-thành ra nó mất thì nó cũng biến mất. Nó chỉ là một giả tướng duyên-hợp, hay nói rõ hơn, là tướng tùy duyên tam có chớ không có thực thể.
    
     Đã biết bản chất lời nói không thật thì tiếng khen, tiếng chê, tiếng chưởi rủa do lời nói tạo thành có thật không? Cũng không thật. Người tỉnh thấy không thật nhưng người mê trái lại vẫn cho lời nói là thật vì họ chấp thân, chấp tâm và chấp cả danh-tự ngôn-ngữ. Chính do sự cố chấp này đã làm cho con nguời điên đảo, phiền nảo, tâm loạn rồi từ đó sanh ra khẩu ý chẳng lành.
    
     Ngày nào con người chưa thấy rõ thế nào là HƯ thế nào là THẬT như lời Đức Hộ Pháp đã dạy, ngày nào con người chưa tỉnh vẫn còn mê, còn chấp thì ngày đó phiền vào vẫn dẫy đầy. Chỉ có sự tỉnh-giác, thấy được chân tướng của một sự vật, của thân, của vọng tâm và của ngôn ngữ với bản tánh vốn không, duyên hợp giả có, thì mới đưa được con người ra khỏi cảnh phiền nảo mà khổ đau.
    
     C.- Ngôn Ngữ không thật và không phải là sự thật:
     Xin kể ra đây một câu chuyện mà các Thiền Sư cũng thường nhắc đến để chỉ nhiều khía cạnh trong đó có khía cạnh ngôn-ngữ không thật và không phải là sự thật. Câu chuyện như sau:
    
     Có một thây tu nọ vì muốn việc tu-hành của mình được mau tinh-tấn nên đã lìa gia-đình đi vào rừng cất một cái cốc để tu. Hằng ngày vào buổi sáng ông ra làng gần đó khất thực và đến trưa trở về cốc tịnh tu. Ngày lại tháng qua, một hôm ông lâm bệnh nặng không còn đi được nữa. Oâng nằm một mình trong cốc.
    
     Một hôm, có một cô gái vào rừng kiếm củi. Cô gái vô tình đi đến cái cốc của thày tu. Cô thấy ông nằm run rẩy và nóng sốt. Với lòng từ tâm muốn cứu giúp người tu hành, cô chạy vội về nhà lấy thuốc và thức ăn mang đến cho ông. Cô lo việc đó được vài ngày thì có nhiều người trong làng để ý. Họ rình mò theo dỏi và thấy cô gái đang ở trong cốc với thày tu. Họ nghĩ rằng giữa thày tu và cô gái này đã có tư tình. Việc này được đồn lan ra và cả làng đều biết.
    
     Thày tu sau khi hết bệnh đi khất thực trở lại, như thường lệ trước đây. Khi vào làng ông thấy dân làng nhìn ông với cặp mắt khinh miệt và thái độ đối xữ khác hẳn khi xưa, không còn kính-trọng nữa. Ong tìm hiểu và cuối cùng được biết đã có những lời đồn vang ông tư tình với cô gái. Họ nói ông tu mà phạm giới nên không cúng dường nữa.
    
     Thày tu buồn lắm vì ông giữ giới hạnh rất cẩn thận thế mà bây giờ người ta lại nói ông phạm giới. Oâng nghĩ chỉ có cái chết mới minh oan được cho ông. Ong bèn đến một gốc cây thắt một cái vòng trên cành để treo cổ tự tử. Khi ông sắp đưa cổ vào vòng thì có vị thần hiện ra.
    
     -Vị thần hỏi ông vì sao mà phải tự tử.
     -Ong kể lại hết câu chuyện và kết luận rằng ông đã hành-trì giới cấm rất nghiêm nhặt thế mà bây giờ người ta lại nói ông phạm giới làm cho ông đau khổ không chịu nổi nên phải tự vạân.
     -Vị thần hỏi ông đã tu được bao lâu rồi.
     -Ong trả lời mới tu được hai năm.
     -Vị thần nói với ông rằng: “Ong đã tu được hai năm, và bấy giờ người ta nói ông thành Phật rồi, vậy ông có thành Phật được không?”
     -Ong trả lời làm sao ông thành Phật được vì công tu-trì còn ít quá.
     -Vị thần bèn nói tiếp rằng: “Người ta nói ông thành Phật nhưng vì công tu còn ít ông không thành Phật được. Vậy người ta nói ông phạm giới, nhưng ông không phạm giới, vậy ông có trở thành phạm giới được không?”
    
     Nghe đến đây thày tu tỉnh ngôï, bỏ ý định tự tử, bái tạ vị thần và lui về cốc tiếp tục tu hành.
    
     Câu chuyện này cho thấy người đời khi nói là do nghi-ngờ, vui buồn hay thương ghét.v.v. mà nói thôi, chớ lời nói ấy không hẳn là thật, không phải là sự thật tức lời nói chỉ có danh ngôn chớ không có thực nghĩa.
    
     Đã biết lời nói không có thực nghĩa vậy thì chấp nó làm gì. Cũng chính vì chấp nó mà người ta luôn luôn bị đau khổ và phiền não phủ vậy. Khi con người vẫn còn chấp ngôn-ngữ là thật, các pháp thế gian là thật thì lúc đó con người vẫn còn phiền nảo và đau khổ triền miên. Nếu các pháp là thật thì được là mừng, mất là khổ, khen thì vui, chê thì buồn, và cứ như thế mà cuốn trôi trong vòng sinh tử luân-hồi biết đến ngày nào mới thoát ra được.
    
     Chỉ khi nào con người thấy rằng ngôn ngữ cũng như các pháp thế gian không thật, mà chỉ có giả tướng, do duyên hợp tạo thành, nên tạm gọi là có, chớ thật ra tự tánh hay bản thể của nó vẫn không, thì ngày đó mọi phiền-trược thế-gian, dù con người không muốn cũng tự nó tiêu trữ.
    
     Giả dụ có một người chưởi ta nhưng ta hỉ-xã, chỉ cười thôi và không chưởi lại, tức ta không nhận tiếng chưởi của ấy. Như vậy tiếng chưởi kia sẽ đi về đâu? Nó sẽ tan biến vào hư không, vào cỏi vô sanh mất dạng, ngoài ra còn trở ngược lại người đã dùng ngôn-ngữ để chưởi ta nữa.
    
     Họ chưởi là đã hành ác khẩu mà ác khẩu có ở đâu thì ác nghiệp tùng theo đó, rồi ác nghiệp này sẽ dẫn dắt con người đi vào ác đạo luân hồi. Vậy ta nên giận hay không nên giận người chưởi ta. Ta không nên giận mà trái lại còn dùng từ-tâm để hỉ xả cho họ nữa. Biết rằng họ vì nhất thời mê-muội tạo ác-nghiệp do ác khẩu thì tội nghiệp cho họ lắm vì họ phải trả vay.
    
     Lời nói, tiếng chưởi không cắt được da xẻ được thịt, nhưng nếu ta chấp nó, thì tự thấy đau thấu tận tâm cang. Nhược bằng không chấp, vì nó chỉ là danh ngôn, là giả tướng chớ có thật đâu, vậy chấp làm chi, như thế tâm ta vẫn an-nhiên tự tại, con đường Đạo rộng mở thênh thang.
    
     D- Ngôn-Ngữ là không theo Kinh Kim Cang, Niết Bàn Lăng-Già:
    
     1.- Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật hỏi ngài Tu Bồ Đề:
     “Này Tu Bồ Đề, Như Lai có nói pháp chăng?…
     Pháp Như Lai nói đều không thể chấp, không thể nói,
     chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp…….”
    
     Tại sao Đức Phật lại bảo rằng pháp Như Lai nói đều không thể nói? Tại vì thật tướng của pháp xa lìa ngôn-thuyết, nói rõ hơn, ngôn-thuyết không thể nói tới được Chân-Lý Tuyệt Đối như là Đạo. Đối với Chơn Lý Tuyệt Đối, ngôn-ngữ có thể dùng để chỉ cho thấy mà thôi.
    
     Vì lý do này nên trong nhiều chùa có tượng Đức Phật đang đứng và ngón tay chỉ lên trời. Đây là Phật dùng ngón tay để chỉ mặt trăng. Ngón tay giả-dụ cho ngôn-ngữ, cho Phật thuyết, còn mặt trăng giả-dụ cho Chân-Lý Tuyệt-Đối là Đạo. Ngón tay không phải là mặt trăng. Ngón tay dùng chỉ mặt trăng ở trên cao xa xôi chớ không chạm tới mặt trăng được.
    
     Nói khác hơn, ngôn-ngữ được dùng để chỉ Chơn-Lý Tuyệt-Đối chớ ngôn-ngữ không nói tận cùng Chân Lý Tuyệt-Đối là Đạo được, và ngôn-ngữ cũng không thể là Chân-Lý Tuyệt Đối chớ ngôn-ngữ không nói tân cùng Chân Lý Tuyệt-Đối là Đạo được, và ngôn-ngữ không thể là Chân-Lý Tuyệt-Đối.
    
     Ngôn-ngữ hay ngôn-thuyết được lập để phả trừ những tư-tưởng lầm lần của chúng sanh, vì chúng sanh còn mê muội và cần phải được cứu-độ nên không thể không nói, do đó mà phải dùng ngôn-ngữ để lập ngôn-thuyết.
    
     Nhưng ngôn-thuyết tự nó không có thực tướng như đã nêu ở A.B.C., vì thế nên Phật bảo “nói mà không nói”. Nói là để chỉ, để cứu độ chúng sanh. Không nói là không nói đến nổi không nói hết được Chân Lý Tuyệt Đối.
    
     2.- Trong Kinh Niết-Bàn hay Kinh Lăng-Già Phật nói: “Ta nói pháp 49 năm chưa từng nói một chữ “
     Tại sao vậy? Tại sao Phật có nói pháp mà lại bảo rằng chưa từng nói một chữ? Như vậy là Phật phủ nhận những lời Phật đã nói hay sao? Nếu hiểu theo nghĩa Phật phủ nhận tất cả những lời Phật nói thì tất cả Kinh nhà Phật phải đem đốt hết vì đó là Phật Pháp do Phật thuyết mà có. Nhưng không phải vậy.
    
     Pháp mà Phật nói chia ra làm hai phần:
    
     a- Pháp là phương-thức Phật giáo-hóa chúng-sanh, đó gọi là Phật Pháp. Đó là Pháp mà Phật nói 49 năm lập thành tạng kinh gọi là Phật Pháp để dạy chúng-sinh nói theo đó mà tu
    
     b- Còn Pháp là Pháp Tánh là cái sẵn có trước Phật chớ không phải đợi đến khi Phật ra đời mới có. Phật ngộ được Pháp Tánh đó nên thành Phật mà Pháp Tánh không thể dùng ngôn-thuyết nói tới nổi.
    
     Vì vậy, đứng về mặt Pháp Tánh, Phật chưa nói một chữ, vì ngôn ngữ là hửu-vi, nằm trong đối-đải, là sanh diệt còn Pháp Tánh là vô-vi, thoát ngoài đối đải, là không sanh không diệt.
    
     Như vậy, kinh Kim Cang, Niết Bàn và Lăng Già cho thấy sự giới hạn của ngôn-ngữ. Ngôn-ngữ hay văn-tự dùng để chỉ rõ giáo-lý, giáo-pháp cho người tu noi theo đó mà tu thì lợi lạc vô cùng. Nhưng ngôn ngử được dùng để tranh luận, nói phải nói quấy, nói hơn nói thua, khen chê để rồi thương hay ghét thì chỉ làm cho con người càng sa đọa, càng xa Đạo mà thôi.
    
     E- Ngôn Ngữ hạn-hẹp theo Đạo-Đức Kinh:
     1.- Trong Đạo-Đức-Kinh, Đức Lảo-Tử có nói: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.
     Nếu cứ hiểu một cách nôm na thì hai câu trên có nghĩa là biết thì không nói mà nói thì không biết gì cả.
    
     Với nghĩa nôm na, như vậy có đúng không?
     Nếu con người hiểu được rằng tam-giới duy tâm, vạn pháp duy thức, vạn vật vô thường, thế gian vô-ngã thì thôi còn nói đúng sai, phải quấy, tốt xấu, khen chê nữa để làm gì.
    
     Thật vậy, thế-gian là vô thường vì có cái gì, kể cả thân xác này thường hằng mãi mãi được đâu. Nói vô- thường vì nó biến đổi thường xuyên để đi đến biến-hoài. Sự hoại-diệt này làm cho người đời rất sợ. Người đời sợ vô cùng khi nghe nói đến nó. Sợ đến đổi người đời hình dung nó như là một con quỉ đến để hớp hồn.
    
     Nhằm để chỉ sự ác-nghiệt của con quỉ này và để khuyên-nhủ tín-đồ rán lo tu mà trong kinh Lám Hối phần Thế-Đạo có câu “Quỉ vô thường sẳn chực đem đi”, và trong đàn cơ bằng tiếng Pháp ngày 19 tháng 12 năm 1926 có nói: “Donnés par un humain, ils ne sont que trop humains. Ce qui vient d’un homme n’a rien de résistant. C’est sujet à détérioration. Ils sont détruits dèsqu’on enlève la vie de celui qui les détient.” để chỉ sự vô thường.
    
     Vô thường thật sự là một định-luật thiên-nhiên và tự-nhiên không thể thay đổi hay đổi dời. Nó chi-phối vạn-vật trên thế gian này, kể cả con người. Với con người thì sinh, lảo, bệnh, tử, với sự vật thì thành, trụ, dị, diệt, còn với thế giới vũ trụ thì thành, trụ, hoại, không.
     Đây là luật Tuần Hoàn của Tạo-Hóa mà không một ai, không một sự vật nào bước ra khỏi, hay đứng ngoài được.
    
     Biết như vậy không phải để cho con người bị-quan, buồn lòng nản chí, mà thấy được như vậy là thấy sự thật, là chánh-kiến. Sự thật trong vũ trụ và trên cỏi đời là y như vậy.
    
     Chánh Giáo đạo Cao Đài có 4 câu như sau:
    
     “Thơm tho chi lắm cũng mùi đời.
     Chưa kẻ dùng nên của để chơi.
     Mua bán lọc lừa như buổi chợ.
     Về nhà chưa tối đã qua đời”
    
     Đời của con người là như thế. Nó như một giấc mộng dài. Con người có thể sống đến tám chín mươi tuổi nhưng cũng có thể thấy đó rồi mất đó. Có ai tránh được cái chết đâu. Hề có sinh là phải có tử.
    
     Biết sinh-tử là lẽ đương nhiên, thành, trụ, hoại, không là lẽ bản nhiên như nhiên, tại sao con người không dùng quảng đời mình với lòng từ-tâm ban bố thiện-lành cho đồng loại và cố gắng tu-trì. Hơn thua nhau chi môt lời nói, mà lời nói có thật đâu. Nó không có thật thể mà chỉ giả-danh thôi. Vậy chấp nó làm gì, chỉ chuộc lấy phiền nảo và khổ đau thôi.
    
     2.- Thật ra với câu “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” Đức Lảo Tử muốn chỉ cho người ta biết rằng lời nói không có khả năng diển tả nỗi cái lý vô-vi của vũ-trụ, không thể nói tới nỗi bản-nguyên của vũ-trụ là Đạo.
    
     Ngay trong chương đầu của quyển Đạo Đức Kinh. Đức Lảo Tư đã nói “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi trường danh” có nghĩa Đạo là bản-thể của vũ-trụ cho nên khó có thể dùng ngôn-ngữ để phân-tách thông suốt được.
    
     Đạo là vĩnh cữu bất-biến không thể diễn-tả được bằng ngôn-ngữ. Điều này cho thấy khả năng hạn chế của văn-tự ngôn-ngữ, vì văn-tự ngôn ngữ vốn giả-lập, chi có giả-danh.
    
     Đã biết văn-tự ngôn-ngữ vốn giả-lập và chỉ có giả-danh, vậy thì thôi ăn thua nhau chi từ lời ăn tiếng nói làm gì. Nếu phải nói thì nên cố gắng nói thiện lành, thương yêu, hòa-ái, bằng ác khẩu thì chỉ tạo thêm ác-nghiệp có giúp ích-được gì trong bước đường tu-tập đâu.
    
     Có câu:
     “Lời nói khỏi mất tiền mua.
     Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
    
     IV- NGÔN-NGỮ VÀ “VỌNG-NGỮ” TRONG ĐẠO CAO-ĐÀI:
    
     Đạo Cao-Đài được thành lập tại nước Việt Nam, Kinh Kệ và Cơ-Bút viết bằng Việt Ngữ, hầu hết với lời lẽ trong sáng và dễ hiểu.
    
     Trong việc dạy dỗ tín đồ cũng như người đời qua Kinh, Cơ, Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng-Liêng, đặc biệt chú trọng vào lời nói hay Ngôn ngữ, nhất là “giới Vọng Ngữ” mà tín đồ hay người đời thường dễ sai phạm nhất.
    
     Với người đời mà phần nhiều vẫn còn mê chưa tỉnh nên việc chấp ngã, chấp ngôn còn rất sâu nặng. Vì còn mê-lầm nên nhiều người thường coi lời nói như một phần không thể thiếu trong đời sống của mình.
    
     Có người cái gì cũng nói, gặp đâu nói đó, nói ma, nói Phật, có khi nói rồi cũng không biết mình đã nói những gì. Sở dĩ người đời hay nói, nói ma, nói Phật là cũng tự tâm mà ra. Hề tâm ma thì nói theo ma, còn tâm Phật thì nói như Thánh nói.
    
     Thật vậy, cũng là lời nói nhưng có lời nói của ma và lời nói của Thánh hạy Phật. Ma nói là do Tâm ma, nói để tranh giành cái thấy, cái biết, khoe khoang cái hay cái giỏi của mình.
    
     Ma nói là do chấp tướng, mà bất cứ lời nói nào do chấp tướng đều là hư vọng, vì tự tướng nó đã là hư-vọng rồi (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng).
    
     Nói do chấp tướng, do vọng thức phân biệt, do tâm thức chấp trước, tức do tình mê nương theo kiến chấp dấy lên, tất cả đều là lời nói của ma. Lời nói của ma thường để đe dọa, áp đảo, mê hoặc hay cám dỗ, khác với lời nói của Thánh hay Phật là để chỉ rõ cho nhơn sanh thấy chỗ tột cùng của Chơn Lý, rồi từ đó lập ngôn.
    
     Ma ở khắp cùng trong thế gian. Ma là bốn chướng ngại cản trở bước đuờng tỉnh ngộ của người đời và sự tu trì của tín đồ các đạo. Chúng chẳng những xuất hiện đầy dẩy ngoài xã hội, mà còn hiện diện ngay cả trong Thánh Thất, trong Chùa.
    
     Như trong Thánh Ngôn đã nói:
    
     “Bày đàn ai khéo sắm đàn giây,
     Để quỉ để ma ở cả bầy.
     Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,
     Làm cho nên nỗi đạo xa Thầy.”
    
     Giáo lý đạo Cao-Đài cũng như đạo Phật có chỉ rõ ma cũng đó mà Phật cũng đó, nói khác hơn, địa ngục cũng là ta, súc sanh ngạ quỉ cũng là ta, con người cũng là ta và Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng là ta.
    
     Hễ ta lạm sát giết người tức là ta đã tự mở của địa ngục cho ta rồi. Hễ ta chưởi rủa, đánh đập, hiếp đáp người thì khác nào con cọp gầm gừ rồi cắn xé con nai. Hễ ta dùng lời ngon tiếng ngọt dụ dỗ để hại người, hoặc hăm dọa, dùng thủ đoạn để bắt người khuất phục thì có khác nào mưu mô chước quỉ của loài ngạ quỉ.
    
     Nhưng nếu ta nhận biết và giử gìn nghiêm nhặt ngũ giới thì ta hiện tại là con người và ít nhất sẽ là con người ở kiếp sau chắc chắn. Hơn thế nữa, nếu tâm ta thanh tịnh thì ta là Hiền Thánh, và biết tự giác, giác tha viên mãn thì quả Phật sẳn chờ.
    
     Tóm lại, hiện tại ta là con người nhưng biết đâu tiền kiếp nào đó ta là súc sanh có công tu được chuyển kiếp người, hoặc ta là Thánh, Tiên vì lầm lỗi mà bị đọa trần.
    
     Điều này được nói rõ trong đàn cơ năm Bính Dần 1926 tại chùa Gò Kén Tây Ninh.
    
     Thầy nói: “Trần là cỏi khổ để đọa bậc Thánh Tiên lầm lỗi”, và trong Thánh Giáo Thầy cũng có dạy:
    
     “Một ngày thỏn mỏn một ngày qua,
     Tiên Phật nơi mình phải ở xa,
     Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ.
     Cữa Tiên xuất, nhập cũng như nhà.”
    
     Biết con người có người cốt Tiên hay Phật, và cũng dễ trở thành ma, chỉ do tâm ma mà ra, nên Thầy ân cần tha thiết khuyên bảo con Thầy rán lo tu để trở về ngôi xưa vị củ là Thánh, Tiên hay Phật.
    
     Trong quá trình dụng công tu tập, người tín đồ dễ tránh nghiệp thân nhưng khẩu nghiệp thì lại khó hơn nhiều.
    
     Dù người tu không phạm vọng ngữ, xảo ngữ, lưởng ngữ và ác ngữ, nhưng với một lời nói đùa thôi thì cũng đủ để tạo nghiệp rồi, chẳng hạn như sự dễ vui có thể trở thành ác khẩu.
     Thí dụ có một anh đánh bạc thua phải bán tất cả tài sản và vợ chồng gây gổ đi đến ly dị. Anh đã đau khổ lắm rồi và nổi khổ đau ấy luôn luôn vằng vặc. Có người gặp anh ấy vừa cười vừa nói đùa: “Ê, lúc này chắc đánh bài cao lắm rồi hả?”
    
     Câu hỏi dễ vui, chỉ vô tình có thể nhắc lại sự đau khổ của anh và âm thầm khơi dậy nỗi khổ đau cùng thắm thiết hơn nữa. Làm cho người khác đau khổ dù chỉ lời nói dễ vui cũng là phạm khẩu nghiệp, là có tội. Bất cứ lời nói nào gây đau khổ cho người khác là có tội.
    
     Do những nét vi tế của ngôn ngữ dễ tạo thành khẩu nghiệp nên trong đạo Cao Đài Thầy luôn luôn ân cần nhắc nhở tín đồ:
    
     A- Nên nói thật nếu cần phải nói. Nên liệu lời mà nói. Nói đúng chỗ, đúng nỏi, đúng lúc. Nên nói ít chớ đừng nói nhiều.
    
     Thầy dạy:
    
     “Tích phước con ơi, tích phước con
     Con còn lăng líu lắm nghe con.
     Con thương con trẻ là thương Đạo.
     Đạo chẳng ở xa ở tại con.”
    
     và:
    
     “Đinh ninh Thầy dặn trẻ đôi lời,
     Mình biết phận mình giữ đó thôi;
     Mặc kẻ thường tình ngu biếâm nhẻ,
     Phải coi nên chỗ để nên lời.”
    
     Thầy bảo tín đồ phải coi nên chỗ để nên lời, tức phải lựa lời mà nói để lập ngôn. Lập ngôn có nhiều ý nghĩa rất thâm diệu, nhưng quan trọng nhất và quí nhất là ở chỗ làm sao lời nói cảnh tỉnh được người.
    
     B- Đừng nói xảo-mị. Đừng nói với mưu kế gian. Đừng nói khen chê và đừng dị-nghị việc người:
    
     Trong đàn cơ ngày 20 tháng 2, 1926 Thầy dặn rất rõ: “Thầy cấm các con dị-nghị việc người.”
    
     Và trong Thánh Ngôn Thầy dạy như sau:
    
     “Cho hay Trời Phật rất công bình.
     Trước mắt ngờ ngờ thấy phép linh.
     Huyền diệu mủi kim qua chẳng lạt.
     Đừng đừng xảo mị gọi tài đình.
    
     và:
    
     “Cung trương chùn đở thế nào đang.
     Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.
     Quyền biến dầu dùng khi buổi ngặt,
     Dằn lòng nhớ tránh kế mưu gian.”
    
     Dùng kế mưu gian cốt để hại người bằng cách nói đâm thọc, nói như mình có đến hai cái lưởi để gây bất hòa, hờn giận, thù hằn; dùng lời nói xảo mị thêu dệt, diễn dịch ý tưởng của người khác theo ý riêng của mình với mục đích gây chia rẽ, xào xáo, mất đoàn kết, cả hai loại ngôn ngữ này đều tạo nên khẩu nghiệp. Đây là hai trọng tội về khẩu.
    
     Ngoài ra, với nghiệp ngôn “dị nghị việc người” tưởng rằng không tội, mà nếu không tội thì Thầy ân cần dặn dò nhắc nhở làm gì.
    
     Trong đàn cơ dạy về “Bất vọng Ngữ” năm Mậu Thìn 1928, Thầy bảo: “Nơi Tòa phán xét, chẳng một lời nói vô ích mà bỏ, nên Thầy dạy các con phải cẩn ngôn, cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.”
    
     Lời dạy của Thầy quá rõ ràng. Dị nghị việc người dễ mang trọng tội. Dị nghị việc người là đem việc người ra mà bàn tán.Thế rồi quen bàn tới, tán lui mãi làm cho tâm loạn trở thành thói quen hay nói.
    
     Thói thường, con người với tánh nết tán kỷ hũy tha, khen mình chê người nên hay nói. Có người để khen mình mà nói, để chê người mà nói, phải cũng nói, quấy cũng nói, đúng cũng nói, sai cũng nói, hay cũng nói, dỡ cũng nói, nói mãi rồi đâm ra quen nói hay dỡ, phải quấy, đúng sai, tốt xấu, v.v. toàn là những chuyện thị phi.
    
     Thị có nghĩa là phải. Phi có nghĩa là quấy. Nếu cứ nói phải nói quấy thì phải quấy biết đến chừng nào mới xong vì ít ai nhận mình quấy mà thường chỉ thấy mình phải.
    
     Có câu:
     “Thuyết thị thuyết phi hà nhật liểu
     Vô minh hải hoạt ngả sơn cao.”
    
     Nghĩa là nếu cứ nói phải nói quấy thì biết đến ngày nào mới nói hết được. Càng nói thì càng làm cho sự mê nuội, sự vô minh của mình càng thêm rộng lớn như biển cả mênh mông và cái ngả của mình càng cao như núi. Chính cái ngả này đã bại-hoại con người, khiến con người tán kỹ hủy tha.
    
     Thật vậy, nếu thấy ngả tướng mình cao thì theo sau đó ngã kiến của mình là hay là đúng, ai đụng tới thì chẳng chịu thua. Vì thấy ngả tướng ngã kiếu cao nên từ đó sanh ra càng ái ngã, thương nó và bảo vệ nó bằng bất cứ giá nào.
    
     Từ ngã tướng, ngã kiến, ngã ái đưa đến ngã mạn, xem thường mọi sïự, mọi vật, mọi người. Đây là cái bệnh chấp ngã.
    
     Người chấp ngã, thấy ngã cao có ba thứ tâm bệnh:
    
     a- Dễ coi thường, dễ khinh khi người khác:
     Coi thường hay khinh khi người khác là một cái tội vì con người ai cũng có Chơn Linh, và mọi Chơn Linh đều bình đẳng khi Thầy ban, chỉ khác nhau ở chỗ mê hay ngộ khi đã nhập thế mà thôi. Thầy ban cho các con Thầy mỗi người một Chơn Linh đồng đều, không ai hơn, không ai kém . Vậy coi thường bất cứ người nào là không trọng Chơn Linh mà Thầy đã ban đồng đều cho các con cuả Thầy vậy.
    
     b- Dễ nổi sân:
     Người thấy ngã mình cao hễ bị chê là hờn giận, dễ nỗi sân, mà sân si là một trong tam độc, một trong thập ác đối với người tu. Nếu phạm phải sân, cửa Thiên đình liền đóng, vì muốn đến được Thiên đình thì phải hành từ thập thiện mà một trong thập thiện là tránh được sân.
    
     Thầy có dạy:
     “Trình ta ta sẽ đở nâng chơn,
     Khuyên một điều con khá giảm hờn.
     Hễ ghét người thì Trời ghét lại,
     Ghét người Trời ghét lẽ nào hơn.”
    
     Nghĩa là các con Thầy nếu người nào muốn trở về ngội vị cũ hãy đến trình Thầy. Thầy sẽ chỉ cho nẻo CHƠN để tránh nẽo HƯ, cái THẬT để tránh cái GIẢ. Trước tiên Thầy khuyên đến trình Thầy và tiếp theo đó Thầy khuyên hãy giảm hờn tức đừng nổi sân, đừng ghét bỏ ai vì hễ ghét người thì bị Trời ghét vậy.
    
     c- Dễ Vị kỹ và ác độc:
     Thật vậy, người chấp ngã cái gì cũng muốn mình hơn, chỉ nghĩ cho mình. Đó là Vị Kỹ. Càng vị kỹ thì lại càng ác độc. Sở dĩ chê người khác là để đưa mình cao thêm, để tăng cái ngã của mình, chẳng cần biết đến sự đau khổ của người bị chê, thế là ác độc.
    
     Khen chê, nói phải quấy, nói đúng sai là cố ý phô bày cái dỡ, cái quấy, cái sai của người khác và chỉ có mình là hay, là phải, là đúng, là tốt, là giỏi mà thôi.
    
     Tuy nhiên, nếu xét kỹ, đúng và sai có phải tuyệt đối đúng và sai không; tốt và xấu có phải tuyệt đối tốt và xấu không; phải và quấy có tuyệt đối là phải và quấy không, v.v.? Không phải như vậy. Cách thấy vừa nói chỉ là cách thấy biên kiến, phiến diện, hai bên đối đải, chớ không phải là chơn lý.
    
     Sự thật không có cái gì tuyệt đối, cố định cả, mà mọi sự vật luôn luôn biến đổi. Cùng một sự việc mà có thể đúng nơi này, sai nơi khác, đối với người này thì phải, người kia thì quấy, v.v. tức tùy thuộc vào không gian, thời gian, cá nhân hay tập thể.
    
     Xin đơn cử những thí dụ như sau:
    
     1.- Đúng sai: Đúng sai không tuyệt đối cố định mà luôn luôn biến đổi. Đúng sai tùy thuộc vào không gian, thời gian và con người.
    
     * Về không-gian: như tai nước Anh và các nước thuộc Khối Thịnh Vượng Chung (Commonwealth) thì người ta lái xe bên tay trái đường lộ. Vậy lái xe tay trái là đúng mà lái bên tay, phải là sai. Trái lại, tại nhiều nước khác, rõ nhất là nước Pháp, lái xe tay trái là sai mà lái bên tay phải mới đúng. Chỉ cách nhau về không gian có 30 cây số với eo biển Manche mà đúng sai khác biệt hoàn toàn, quá rõ ràng.
    
     * Về thời gian: như tại nước Tàu và vài nước kế cận, trước đây vua là thiên tử. Vua muốn giết ai cũng được. Bề tôi trung với vua khi vua bảo chết là phải chết. “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” mà hình ảnh Tỷ Cang là điển hình.
    
     Thử hỏi ngày nay quốc trưởng nước Tàu còn có thể bảo người nào thì tự động người ấy phải tự tử được không. Chắc chắn là không. Thời gian đã làm thay đổi. Ngày xưa đúng, ngày nay sai. Đúng sai tùy thuộc vào thời gian.
    
     *Với con người: đúng sai tùy căn cơ, tùy nhận thức của mỗi người. Chuyện kể có một cặp vợ chồng ra đồng làm việc, chồng đui, vợ điếc. Khi cả hai đang gặt lúa bổng có vua đi qua ở trên lộ xa xa. Đoàn của vua đi cờ xí rợp trời trống chiên inh ỏi. Người vợ hỏi chồng cái gì vậy.
    
     Chồng vì đui chẳng thấy mà chỉ nghe nên bảo rằng tiếng kèn, trống, chiêng hòa nhau nghe vui quá. Người vợ vì điếc cải lại tiếng kèn, trống, chiêng đâu có chỉ có cờ xí phất-phới thôi. Hai người cải nhau rồi giận nhau bỏ về không gặt lúa nữa. Như vậy hỏi ai đúng, ai sai.
    
     Không ai hoàn toàn đúng mà cũng không ai hoàn toàn sai. Đúng sai là tùy căn cơ, tùy cái nghe, cái thấy, cái nhận thức của mỗi người. Đúng sai không tuyệt đối, cố định mà chỉ tương đối thôi.
    
     2- Phải quấy:
     Phải quấy cũng vậy. Phải quấy không cố định mà biến đổi tùy nơi, tùy lúc. Như tại các nước theo Hồi Giáo, người đàn ông được quyền có 4 vợ. Như vậy, chánh thức có 4 vợ là phải chớ không quấy chút nào cả. Còn tại Hoa Kỳ hay Việt Nam và nhiều nuớc khác, người đàn ông có hai vợ đã là quấy lắm rồi, đừng nói chi tới ba bốn. Như tại nước Uùc chẳng hạn, theo luật thì bất cứ ai có hai vợ là phạm tội, đã thành tội rồi chớ không còn nói chi phải quấy nữa.
    
     Thí dụ thứ hai là thời xưa ở Việt Nam, con gái cha mẹ đặt đâu ngồi đó. Vậy là phải, cải lại là quấy. Ngày nay, phần lớn ở Việt Nam đã khác, nhưng đặc biệt ở ngoại quốc như nước Uùc chẳng hạn, hầu như con đặt đâu coi được được là cha mẹ sẽ ngồi đó vậy không có quấy chút nào cả. Văn hóa Uùc như thế, không có gì quấy mà là như vậy.
    
     3- Thiên ác:
     Thiện ác cũng vậy. Cũng cùng một sự việc mà đối với người này là thiẹân, đối với kẽ kia thì ác. Như một con chồn, vào một buổi chiều trời sắp tối. Nó rược theo con gà để bắt làm mồi ăn và tha về cho con nó ăn. Có một cậu bé thấy vậy, muốn cứu con gà, nên đuổi con chồn đi. Chú chồn chạy đi và không bắt được con mồi. Đêm đó nó nhịn đói và con nó cũng bị đói. Vậy với chú chồn thì cậu bé là ác vì làm cho mẹ con nó đói. Nhưng với cậu bé thì cậu đã làm một việc thiện cứu được con gà.
    
     Vậy cũng một sự việc mà thiện ác không cố định mà tùy nơi, tùy lúc, tùy người mà trở thành thiện hay ác.
    
     4- Đúng với đúng là sai:
    
     Xin được kể ra đây câu chuyện “Phong Phang”
     Lục Cổ Huệ Năng được Ngũ Tổ Hoàng Nhẩn trao Y-bát để làm tổ Thiền Tông, thứ 6 lúc Ngài Huệ Năng vẫn còn là một cư-sĩ chớ chưa phải tu sĩ. Ngũ Tổ ban đêm đưa Ngài ra bến đò chạy về phương Nam. Phe Thượng Tọa Thần Tú đuổi theo để giựt y bát lại.
     Tổ Huệ Năng phải lẩn trốn, rày đây mai đó, có lúc phải sống với bọn thợ săn và đi săn thú.
    
     Khi Ngài đến được Quảng Châu vào sân chùa Pháp Tánh lúc Pháp Sư Aán Tông đang giảng kinh Niết Bàn. Ngoài sân chùa có hai vị tăng cải nhau mãi không thội về việc lá phướng treo trong sân chùa đang bay trước gió. Một vị tăng nói phướng động. Vị tăng khác nói gió động. Không ai chịu thua. Ai cũng cho rằng mình đúng không chịu mình sai.
    
     Tổ Huệ Năng bèn tiến đến bảo: “Không phải gió động, cũng không phải phướng đông, mà tâm của hai ông động.”
     Thật, là một câu nói đầy bất ngờ từ một cư sỉ. Câu nói này có nghĩa cả hai vị tăng, mỗi người đều tự cho mình đúng, nhưng cả hai đều không đúng, mà cải hai đều sai.
    
     Sở dĩ Tổ nói không phải phướng động, cũng không phải gió động là vì nếu có là phướng mà không có gió thì lá phướng làm sao động được. Nhưng nếu có gió mà không có là phướng treo trên cột phướng thì gió cũng không thể làm cho phướng bay được. Nhìn vào cột phướng đứng im lìm thì nào thấy động được.
    
     Động ở đây là tướng duyên hợp, do hai hay nhiều yếu tố hợp lại mà thành tức có duyên hợp mới có động, không duyên hợp thì không động. Động là do hai yếu tố gió và phướng hợp lại, nếu chỉ nhìn một mà nói thì sai.
    
     Tại sao Tổ lại bảo tâm hai vị tăng động? Vì hai vị tăng chấp và chỉ chấp có một bên. Khi chấp là dấy niệm để chấp. Dấy niệm thì phải dùng tâm. Dấy niệm do dùng tâm thì tức nhiên tâm động. Do đó mà nói tâm động. Ơ đây Lục Tổ muốn chỉ thẳng cái gốc của sự cải nhau là do tâm chấp. Mà hề dấy niệm chấp là có tranh cải, và động là từ cái chấp đó mà ra.
    
     Câu chuyện “Phong Phang” trong kinh Pháp Bảo Đàn muốn bảo người đời rằng: lời nói thường chỉ phiến diện thôi chớ không đạt được Chân Lý. Người đời vì chưa tỉnh giác vẫn còn mê muội nên thường hay tranh hơn thua qua lời nói.
    
     Vì thế cũng trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ có dạy rằng: “Người mê miệng nói, người trí tâm hành.”
    
     Mà Đức Lảo Tữ từ trước cũng đã dạy: “Hành bất ngôn chi giáo.” Là vì theo Đức Ngài cái sai là bề trái của cái đúng, cái quấy là bề trái của cái phải, cái ghét là bề trái của cái thương, thương ghét là một không có gì khác nhau, mới thương đó rồi ghét đó, mới quấy đó rồi phải đó, mới sai đó rồi đúng đó.
    
     Ơ đời có ai quấy mãi đâu. Cũng có lúc làm phải. Ơ đời có ai nói sai mãi đâu, cũng có lúc nói đúng. Phải quấy, đúng sai cũng từ ở một người, chỉ hiềm vì mê mà quấy và sai, còn tỉnh thì đúng và phải. Tất cả chỉ do tâm, mê hay tỉnh.
    
     Do biết người đời nhiều mê ít tỉnh, nhận vọng tâm cho là mình, nhận giặc làm con (theo như lời nói của Đức Phật), chớ không thấy được Chơn Tâm nên Đức Lảo Tử Khuyên người đời nếu muốn được Đạo đừng có nhìn sự vật bằng cặp mắt nhị nguyên, chia phân nhị ngã mà phải thấy cả thảy đều là một.
    
     Người tín đồ Cao Đài hằng ngày cúng tứ thời thường nhìn thấy một đó là Thiên Nhản. Dù vậy, khi hết cúng đi về quên đi, cũng có người chấp nhị nguyên, nhị ngã rồi sinh ra bất đồng ý với nhau. Có gì là nhị nguyên, nhị ngã đâu. Cùng một người, nhưng có khi người ấy nói sai, làm quấy mà cũng có khi người ấy nói đúng, làm phải, chớ nào phải đó là hai người, là nhị ngã.
    
     Sở dĩ người đời phiền nảo nhiều, khổ đau nhiều là cũng do chấp nhị ngã, nhị nguyên, tức chấp hai bên. Nhìn Sự hay Tướng thì có hai bên nhưng đạt Lý hay Tâm thì không có.
    
     Giáo lý “Pháp Môn Bất Nhị” của nhà Phật có giải rõ giáo pháp này và Lảo Giáo cũng có đề cập với “thuyết Tương Đối.” Trong Kinh Cơ của đạo Cao Đài cũng thế, cũng có đề cập đủ cả, chỉ hiềm vì Tạng Luận chưa được khai triển.
    
     Trở lại với đạo Lảo, cái mà Đức Lảo Tử chống đối là nhìn mọi sự vật trên thế gian này, nhìn cuộc đời bằng khối óc phân chia dài ngắn, cao thấp, đúng sai, phải quấy, tốt xấu, thiện ác, khen chê, v.v.
    
     Sự phân chia như vậy là sai, là trái Đạo. Sự thật chúng không rời nhau, chúng tương tùy, tương sinh. Thí dụ có cao mới thấy thấp, có ngắn mới thấy dài. Thử đem cây thước học trò gạch hàng giấy tập vở so với cây thước dài một thước của thợ mộc thì cây trước ngắn hơn cây sau.
    
     Nhưng nếu đem cây thước của người thợ mộc so với cây thước giây của người thợ may dài hơn hai thước thì đến luợc cây thước mà ta nói dài tức cây thước của người thợ mộc lại trở thành ngắn. Nêu đem cây thước giây của người thợ may so với giây thước của một trắc địa sư đo đất thì từ dài, cây thước của người thợ may tự nó trỡ thành ngắn, v.v.
    
     Dài ngắn chỉ tương tùy, tương sinh, tương đối chớ không tuyệt đối. Có dài có ngắn là do sự phân biệt hữu lậu mà ra. Cao thấp, tốt xấu, khen chê, v.v. cũng vậy. Tất cả đều tương đối, tương sinh. Không có cái này thì chẳng có cái kia.
    
     Đức Lảo Tử nói: “Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, tiền hậu tương tùng.” để chỉ sự tương sinh, tương tùy, tương đối, v.v. Sở dĩ người đời phân chia cho đó là hai là vì óc phân biệt mà ra chớ nào phải là hai.
    
     Đã biết vậy thì đừng nên nói hơn thua, cao thấp, có không, tốt xấu, khen chê. Nếu lấy óc phân chia này để so sánh, chỉ trích, phê bình nhau là điều chẳng nên làm. Lập ngôn mà cứ chỉ trích, phê bình nhau, không xa rời óc nhị phân, nhị ngã thì càng ngày càng xa Đạo.
    
     Con người nếu muốn được Đạo thì phải bỏ cái óc chia phân. Đức Lảo Tử gọi đó là “Giải Kỳ Phân” mà các thí dụ trong bài này về đúng sai, phải quấy, v.v. đã có giải phần nào dù chỉ rất ít thôi.
    
     Với Thuyết Tương Đối và giáo pháp Giải kỳ Phân, Đức Lảo Tữ muốn chỉ cho thấy bậc Thánh Nhân sở dĩ đạt đến Đạo tức trạng thái Tuyệt Đối chỉ vì biết rõ mình có mắc bệnh Nhị Nguyên, phân chia nhị ngã.
    
     Do biết có cái bệnh phân tán đó nên đã phòng ngừa và tỉnh ngộ. Đức Lảo Tử nói: “Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.” Nghĩa là biết mình có tâm bệnh thì tâm bệnh đó sẽ được trị hết. Tâm bệnh này là cái bệnh cứ nói đúng, nói sai, nói phải, nói quấy rồi khen chê, thương ghét, v.v.
    
     Đúng sai nào có khác hai bề mặt của một đồng tièn, đúng đó rồi cũng có thể sai đó. Phải quấy cũng do một người, chỉ vì tâm bệnh mà ra. Có gì là hai, có gì cố định.
    
     Vậy thì còn khen chê làm chi, thương ghét làm gì. Nếu cần phải khen là cốt để khuyến thiện, cốt để giúp người được vui tươi hạnh phúc, ổn định tâm hồn. Nếu cần phải thương là để cứu người sa cơ, thất thế, già cả, tật nguyền hay gặp hoạn nạn, đó là hành thiện tạo nghiệp lành. Còn phỉ báng chê người, hay hờn giận ghét người chỉ có chuốc lấy ác nghiệp mà thôi.
    
     Muốn “vô ngôn hành” được như lời Đức Lảo Tử khuyên để tạo phước huệ, để đạt Đạo thì phải dùng Trí như Đức Ngài đã dạy. Trí đây là Trí Đạo tức Trí Tuệ, Giải Thoát mà nhà Phật gọi là Trí Tuệ Bát Nhả chớ không phải trí thế gian.
    
     Trí Đạo hay Trí Tuệ Giải Thoát, theo tôn giáo Cao Đài, là trí thấy được “Nhược thiệt nhược hư; Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa; thị không thị sắc; vô vi nhi dịch sử quần linh…” và còn nhiều nữa bàng bạc trong kinh và cơ Đại Đạo.
    
     Còn trí thế gian là trí làm cho mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất… Về trí thế gian thì Đức Lảo Tử chê lắm. Trong Đạo Đức Kinh, Đức Ngài có nói như sau:
     “Đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột” nghĩa là rất thẳng dường như cong, rất khéo dường như vụng, rất hùng biân dường như lấp bấp ấp úng vậy.
    
     Có người khéo nói, nói giỏi, thường nói thao thao bất tuyệt để tranh biện, chứng tỏ rằng mình giỏi, mình hơn người, lý luận mình sắc bén, v.v. để rồi từ đó thấy người thua, người dỡ, mà nào có biết đâu khi mình càng trở tài hùng biện, phóng chạy theo sự tướng thì tâm mình chỉ chứa chấp toàn vọng niệm điên đảo của thế gian chớ nào phải tâm đạo.
    
     Dùng trí thế gian để hơn thua, theo vọng tâm để tranh chấp, chỉ cốt làm bại hoại cái tâm đạo mà thôi.
    
     C.- Phần A và B đã bàn về vọng ngữ, xảo ngữ, lưởng ngữ. Trong phần C xin được lạm bàn về ác ngữ:
    
     Con người bản ngã vốn ham sống và bảo vệ cuộc sống của mình bằng mọi cách. Theo triết gia Pháp Bergson thì đây là một thực tế. Triết gia Bergson mô tả sức sống mãnh liệt của con người ( élan vital) qua hai bản năng. Đó là bản năng sinh tồn ( instinct de conservation) và bản năng tàn phá (instinct de destruction). Hai bản năng này làm cho con người thiên về ác hơn là thiện.
    
     Vì để bảo vệ mình nên bằng mọi cách con người phải diệt trừ tất cả mọi mầm mống, mọi yếu tố, mọi sự vật có thể làm hại đến mình.
    
     Rồi với cái đà sức sống vươn lên (élan vital) con người phải tàn phá tất cả những gì cản trở đường mình đi, con đường tiến thủ của mình. Do đó mà trong việc làm hay lời nói, con người thường hay tìm cách vùi dập, đè bẹp người khác, dù cho việc làm ấy có đúng hay sai đối với lương tâm, con người vẫn thừơng làm.
    
     Làm và nói để chứng tỏ ta hay người dỡ, ta đúng người sai, ta phải người quấy, ta tốt người xấu, và nhất là ta cao và mọi người đều thấp hơn ta. Tất cả việc làm lời nói càng ngày càng làm cho con người giảm thiện tăng ác nếu chẳng biết tu đúng theo con đuờng chơn đạo.
    
     Biết rõ người thế gian như vậy nên Đức Chí Tôn trước đây đã lần lượt sai các con Ngài xuống trần lập Đạo để dạy người đời tránh ác làm lành.
    
     Ngày nay, Đức Chí Tôn tự Ngài giáng trần dạy đạo với nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ngài đã qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi, vì vậy mà trong giáo lý đạo Cao Đài có tất cả tinh túy giáo lý của tất cả các Đạo khác, trong đó việc hành thiện, tránh ác là một giáo pháp.
    
     Đức Chí Tôn dạy các con Ngài một khi đã nhập môn rồi thì phải giữ gìn Ngũ giới, mà trong Ngũ giới thì ngữ giới là khó nhất, vi tế nhất, phạm hay không thường ở tại giới này.
     Thật vậy, giết người, trộm cắp hay tà dâm rất dễ tránh, nhưng nói làm cho người đau khổ mà có khi mình hầu như không hay biết, thật khó tránh.
    
     Đây là một nét vi tế về ác ngữ, do ác khẩu mà ra. Chính vì sự vi tế của ngôn ngữ mà Thầy khuyên bảo các con Thầy nên thận trọng cẩn ngôn, ít nói càng tốt, không nói càng hay.
    
     Không nói đây chẳng phải không nói gì ca,û vì nếu không nói gì cả thì con người làm sao giao tiếp với nhau được. Có nhiều người hiểu lầm chổ này rồi tịnh khẩu, không nói lời nào, nhưng đi đâu thì cầm theo cây viết và tờ giấy.
    
     Hễ muốn hỏi gì ai thì viết ra và có ai hỏi gì thì không trả lời thành tiếng mà chỉ viết trên giấy để trả lời thôi. Họ không biết rằng đó cũng là một trong nhiều cách nói. Người ta có thể nói bằng cách ra dấu, bằng hành động (body language) như đưa hai tay lên là nói đầu hàng, nhăn mặt là nói đau hay nói không đồng ý, v.v. Như vậy dù lời không nói nhưng ý lại có nói.
    
     Tóm lại: Như trên đã trình bày, lời nói tự nó không có. Nó do 8 duyên hợp mà thành. Trong 8 duyên hợp này quan trong nhất là ý (nảo).
    
     Lời nói là do từ ý mà nói. Không nói là không có ý để nói. Ý là chủ, là thể mà lời chỉ là dụng, là phương tiện mà thôi.
     Nếu con người không có ý thì làm sao nói ra lời được. Như vậy, không nói lời ác là tự nơi ý đã không ác rồi..Tương quan giữa lời nói và ý mật thiết như vậy. Do đó, hễ tránh được ý ác thì sẽ không có nói ác.
    
     Điều quan trọng là phải tránh từ ý để không gây ra nghiệp và cả khẩu nghiệp, chớ lời nói thì khi cần con người vẫn phải nói. Nhưng cần đây là cần những gì?
     Phàm con người ai cũng thích nghe lời nói êm tai, lời nói thiện lành. Cái mà con người cần, đó là lời nói nho nhả, thanh tao, ngay thẳng thật thà, thương yêu đoàn kết, an ủi lẩn nhau, v.v.
    
     Vậy để vừa lòng người cũng như thuận lòng Trời (thuận nhơn tâm ắt thuận Trời), người tu nếu cần phải nói thì nên nói những gì có đao lý, thiẹn lành và nên tránh những lời nói ác.
    
     Thầy có dạy rằng:
    
     “Nho nhả con tua tập tánh tình.
     Ở đời đừng tưởng một mình lanh.
     Một câu thất đức thiên niên đọa
     Nhiều nồi trầm luân bởi ngọn ngành.”
    
     Chỉ một câu thất đức thôi là có thể bị đọa đến cả ngàn năm. Vậy nói thất đức, nói ác làm chi để phải bị trầm luân; Nói ác là nên tránh. Tránh được nói ác cũng là một bước trọng 10 bước tiến tu lên Thập Thiện.
    
     Muốn đạt đến Thập Thiên để siêu thăng, trước tiên người tu phải giử giới cấm, dừng thất ác vì trong Ngữ Giới Cấm của Đại Đạo có đến 8 điều cấm chớ không phải chỉ có 5 thôi.
    
     Đừng thất ác là bước đầu để hành trì thất thiện.
    
     Thất thiện đó là:
    
     1.- Thay vì sát sanh, nên phóng sanh.
    
     2.- Thay vì trộm cắp, nên bố thí.
    
     3.- Thay vì tà dâm, nên giữ trong trắng, trinh bạch.
    
     4.- Thay vì nói láo, nên nói thật.
    
     5.- Thay vì nói thêm bớt, thêu dệt, nên nói ngay thẳng, trung chính.
    
     6.- Thay vì nói đâm thọc, nên nói lời hòa hợp, đoàn kết.
    
     7.- Thay vì nói lời độc ác, nên nói nho nhả, thanh tao, thiện lành, thương yêu hòa ái, an ủi người.
    
     Còn ba thiện nữa là phải tránh tam độc: tham, sân, si (tà kiến). Tam độc này rất khó tránh, dù vậy cũng tránh được.
    
     Trong Kinh Cơ Đại Đạo cũng có dạy.
    
     Để có thể tránh tam độc, hoàn thành tam thiện cuối cùng, điều quan trọng là người tu phải cố gắng trước tiên hành trì tam thiện về thân và tứ thiện về ngôn. Đặc biệt về ngôn, người tu nên thận trọng cẩn ngôn và luôn luôn nhớ rằng:
    
     “Đạo bổn vô ngôn
     Ngôn sinh lý tán
     Ngôn ngữ Đạo đoạn”

    KẾT LUẬN:

    1- Muốn giữ được kiếp làm người trong luân hồi, người tu nói riêng hay con người nói chung phải giữ gìn ngũ giới. nói khác hơn giữ được ngũ giới là giữ được kiếp làm người trong tái kiếp mai sau.

    2- Muốn được siêu thăng “Thiên Đàng liền đến” như lời Lục Tổ Huệ Năng đã nói, người tu phải cố gắng hành trì Thập Thiện.

    Trong hạnh hành trì Thập Thiện thì việc tránh được ba nghiệp nơi thân con người có thể thực hành không khó lắm. Có khó chăng là bốn nghiệp về Khẩu tức Lời Nói.
    Riêng còn lại tam độc Tham, Sân, Si nếu muốn tránh được để kiện toàn tam thiện cuối cùng thì điều cần yếu trước tiên là con người phải cố tỉnh thức, tránh khỏi si mê. Càng tránh được si mê thì con người càng tránh được tham và Sân. Nói rõ hơn tránh được si mê càng nhiều thì con người càng tránh được tham Sân và càng dễ dàng đạt Đạo, giải thoát thành Phật, tránh được luân hồi.

    3- Quyển sách nầy được viết với mơ ước, nhắn nhủ cùng nhau xa lánh luân hồi, mà mục đích trước tiên và hiện tại là phải làm sao tránh được bốn nghiệp liên quan đến lời nói.

    Để tránh được bốn nghiệp liên quan đến lời nói tức Khẩu nghiệp, xin được kể lại hai câu chuyện sau đây:

    Câu chuyện thứ nhứt nói về một nhà sư:
    Có một nhà sư ngày nọ leo lên một cây cao. Có một người bất chợt đi ngang qua thấy nhà sư đang ở trên cây cao mừng quá, ví ngưới ấy có một việc muốn hỏi nhà sư, nhưng từ lâu không gặp được.
    Ngưới ấy hỏi nhà sư rằng:
    “Vậy chớ ý của Tổ Sư Đông Độâ là như thế nào?”
    Nhà sư nhìn xuống định đáp thì rủi xẩy chân té. Nhà sư quơ tay nhưng thay vì tay chụp trúng thì miệng lại cắn được một cành cây. Nhà sư lúc đó không làm sao dám hả miệng ra để trả lời vì nếu hả miệng ra nói thì sẽ bị rớt xuống đất, tan xương nát thịt.

    Còn câu chuyện thứ hai được rút ra từ quyển “Giai thoại nhà thiền” với tựa đề “Họa tùng Khẩu xuất”
    Chuyện kể rằng thuở xưa có con rùa, gặp phải lúc hạn hán, nước hồ ao đều cạn, không biết đi đâu cho có nước. Bấy giờ có hai con hạc trắng đậu trên cây gần đó. Rùa vội vã nhờ hạc giúp mình đến chỗ có nước. Hạc thương tình hứa giúp đỡ nhưng trước khi đi lại dặn rùa không được nói chuyện, sẽ có hại. Rùa vâng chịu. Hai con hạc mới dùng mõ kẹp một sợi dây nhỏ và bão rùa ngậm vào.
     Thế rồi hai con hạc bay lên hư không. Khi bay ngang một làng kia, gặp trẻ nhỏ đang vui chơi nhìn thấy, nói với nhau rằng:
    - Ý, ngộ quá bây ơi! Hai con hạc với con rùa cõng với nhau kìa. Ý ngộ quá! Ý ngộ quá!!
    Rùa nảy giờ trong bụng hết sức nhẫn nhục, vì nhớ lời hạc dặn. Nhưng khổ nỗi, các trẻ nhỏ cứ trêu chọc mãi, rùa mới hả miệng định chửi các trẻ nhỏ , nhưng chưa thành lời thì liền rơi xuống đất và bị chúng bắt ăn thịt. Do vậy, tất cả mọi người phải can thận nơi miệng, nếu không sẽ bị hại thân.

    Ai ơi ít nói là vàng,
    Nói nhiều, nhiều lỗi trái ngang cũng nhiều.
    Chi bằng ít nói bao nhiêu,
    Khỏi điều phiền não, khỏi điều thị phi.
    Hằng ngày tam nghiệp vô vi,
    Không tranh nhân quả có gì đảo điên.
    Không nghiệp chướng, chẳng lụy phiền,
    Vô ưu, vô não, nương thuyền tiêu dao.

    Với hai câu chuyện ghi trên, chuyện thứ nhứt muốn khuyên người đời nên nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng nơi, nên thận trọng, cẩn ngôn. Nên lựa lời mà nói. Nên nói ít càng hay, chẳng nói gì thì càng tốt.

    Chẳng nói gì cả đó là trường hợp của nhà sư. Nhà sư chẳng nói một lời vì nếu mở miệng ra thì tan xương nát thịt. Lời nói nó tai hại như vậy đó. Biệt bao nhiêu người tán gia bại sản hay tan nát xác thân cũng tại vì lời nói mà thôi. Nói thiện, nói lành, nói lời nho nhã thanh tao, thương yêu hòa ái hay nói để an ủi người, cứu vớt người thì nên nói; bằng trái lại nói láo, nói thêu dệt, thêm bớt, nói đâm thọc hay lời nói độc ác thì trong hiện đời chỉ tự chuốc hoạ vào thân và tái kiếp thì chắc chắn không làm sao tránh khỏi ngữ ngôn nghiệp chướng.

    Còn về chuyện con rùa:
    Câu chuyện nầy muốn nói với người đời rằng chỉ vì tâm còn Tham, Sân, si, miệng còn ham ăn nói, chửi bới mắng nhiếc người  mà con rùa phải tan xương nát thịt.
Có nhiều người ở đời cũng vậy. Chỉ vì ham ăn ham nói, đôi khi lại nói chẳng thiện lành mà chỉ toàn lời độc ác vì thế nên mới rước họa vào thân, tự mình chuốc lấy khổ đau mà lại còn gây khổ đau cho bao nhiêu người khác nữa.

    Để kết luận xin ghi lại đây lời của người xưa thường nói:

    Ngươì xưa thường hỏi rằng tại sao mỗi con người ai cũng đếu có hai lỗ tai, hai con mắt, hai lỗ mũi mà lại chí có một cái miệng?
    Có hai lỗ mũi là để thở được nhiều không khí nuôi thân. Có hai con mắt là để thấy rộng, biết nhiều giúp con người dễ tỉnh thức giác ngộ và lo tu hành. Còn có hai lỗ tai là để giúp con người nghe nhiều hơn là nói. Nếu chỉ thích nghe mà ít chịu nói thì bảo đảm sẽ được mọi người thương an nhiên tự tại, dù không tu mà khác nào đã có tu nhiều. Con thỏ nó đẹp là nhờ có hai tai đứng, thẳng, cao và dài. Hai tai cao và dài giúp thỏ nghe nhiều, chạy lẹ nên ít khi bị chết oan. Nếu hai tai của thỏ cũng ngắn, nhỏ và hẹp thì thỏ nào có khác chi mèo. Hai tai là để nghe. Cái miệng là để nói. Hai tai là để nghe nhiều, một miệng là để nói ít. Càng nói ít chừng nào thì càng tốt chừng nấy. Điều nên nhớ, như thế nhân thường nhắc là “Con ếch nó chết chỉ vì cái miệng mà thôi”.

    Càng ít nói, con người càng an toàn và càng dễ tránh Khẩu nghiệp.

    Tránh được Khẩu nghiệp cũng như Thân nghiệp và Ý nghiệp, con người sẽ dễ lên Thiên Đàng, dễ dàng thành Phật, có câu:

    “Tam nghiệp hằng thanh tịnh,
    Đồng Phật vãng Tây Phương”.

    BẠCH-Y

Index

Home