LỄ NGHI - LUẬT ĐẠO

"GIỚI"
* Tác-giả: HT. Lê văn Thêm (Tự Bạch - Y)

______

TỰA


    Ngũ Giới trong Đạo Cao Đài không khác xa Ngũ Giới của Đạo Phật.

    Ngũ Giới trong Đạo Cao Đài cũng gồm có: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói láo và không uống rượu.
    Mặc dù vậy, khi dạy về Ngũ Giới, giáo lý Đạo Cao Đài lại có sự nhấn mạnh về ngữ Giới, tức chú trọng đến lời nói.
    Chính lời nói hay ngữ giới là phần mà người tu dễ dính mắc nhất, dễ sai phạm nhất.

    Thật vậy, nếu nói Giới kềm thúc thân gồm có ba là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm thì giới liên quan đến ngôn ngữ “ tức lời nói ” lại có đến bốn giới. Đó là không nói láo, không nói thêu dệt, không nói đâm thọc và không nói lời độc ác.

    Người tu ít khi sai phạm hay dính mắc các Giới về thân, vì đây là những việc làm thấy rõ mà con người có thể dễ tránh. Còn đối với lời nói mà người ta cho rằng như gió thoảng mây bay, nói ra là mất công thêm vào thói quen hay nói, nên con người rất dễ sai phạm.

    Bài viết nầy đặc biệt chú ý đến bốn Giới thuộc lời nói nhằm giúp người tu thấu triệt để tránh được sai phạm bốn Giới nầy.
    Nếu giữ được bốn Giới về lời nói, cộng thêm ba Giới kềm thúc thân thì người tu đã giữ được bảy giới. Chỉ cần tu tập và tránh được thêm ba thách thức tức ba Giới cuối cùng là Si mê, Tham lam và Sân hận thì người tu đã hành trì Thập Thiện, mà thực hành được Thập Thiện thì Thiên Đàng liền đến, tức sau khi từ giã cõi đời người tu sẽ được thăng Thiên, tức là lên được cõi Trời thay vì tái kiếp trở lại thế gian.

    Nói rõ hơn, việc hành trì Thập Thiện sẽ giúp người tu đến được Thiên Đàng, nhưng lên được cao hay thấp, lên được đến từng Trời nào đó là còn tùy ở công tu, cách tu và mức độ tỉnh thức của mỗi nhơn sanh, tức sự giác ngộ của mỗi người.

     Giới đã được nhiều vị Chức Sắc và đồng đạo đề cập đến. Phần trình bày này chỉ xin được góp ý thêm nhắm hổ trợ nhau trên bước đường phát triển tâm linh để cùng đồng đạo tiến tu. Do đó, nếu có điều chi sơ sót, kính xin quí vị thức giả cao minh hoan hỉ lượng thứ.
    
     Bài viết về Giới gồm có hai phần:
    
     - Phần thứ nhứt liên quan đến tầm quan trọng của giới.
     - Phần thứ hai xin được lạm bàn đến những nét vi tế về giới.
    

PHẦN I: TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIỚI

     1- Giới là nền tảng căn bản của Đạo để dạy tín đồ tu hành, nghĩ thiện làm lành, quan trọng nhất là không tạo nghiệp. Chính nghiệp là động cơ dẫn dắt luân hồi.
    
     2- Giới đối với người tu cũng như nền nhà đối với ngôi nhà . Muốn cho ngôi nhà càng bền càng cao thì nền nhà phải thật vững chắc. Người tu cũng vậy. Muốn tránh khỏi sinh tữ luân hồi và được siêu thăng hay giải thoát, trước tiên phải giữ gìn giới, giống như trước khi muốn cất nhà phải xây nền nhà thật vững chắc vậy.
    
     3- Giới gồm những tín điều về đức hạnh, là giáo pháp tiên khởi mà tín đồ của bất cứ tôn giáo nào cũng phải hành trì trước khi muốn tiến xa hơn nữa trên bước đường chuyển hoá tâm thức hay phổ độ.
    
     4- Giới là nấc thang lập cước, nấc thang đầu lập phước đức để bước lên các bậc thang công đức.
     Bất cứ khách trần nào, cư sĩ hay tu sĩ, thuộc bất cứ tôn giáo nào, một khi đã bước vào đường tu thì trước nhất phải lấy giới làm căn bản.
    
     Người tu nếu không giữ giới thì dù tu pháp môn nào vẫn không có nền tảng vững chắc. Công tu dù có nhưng chứng quả sẽ không, và dù có đi phổ độ nhơn sanh, có hành pháp gì thì cũng không làm sao diệu dụng được.
    
     Có nhiều người tu nghĩ rằng mình đã giữ tròn ngũ giới vì không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.
    
     Cũng có nhiều vị hành hạnh phổ độ nghĩ rằng ngoài việc giữ gìn ngũ giới, mình còn hành Tam-Tụ Giới, tức đã giữ tròn Nhiếp Luật Nghi Giới, Nhiếp Thiện Pháp Giới, Nhiêu Ích Hữu Tình Giới, nghĩa là đã ngăn dứt không còn làm những điều ác, chỉ làm các điều thiện và làm lợi ích cho nhỏn sanh qua con đường phổ độ.
    
     Hai cách nghĩ trên đây về tổng thể tức về phần thô thì có đúng. Dù vậy, nếu đi vào chi tiết quán xét phần vi tế thì vẫn còn nhiều điểm cần ghi nhận.
    
     I- GIỚI VÀ LUÂN-HỒI:
    
    Luân hồi trong giáo lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và giáo lý nhà Phật có cùng chung một ý nghĩa. Luân hồi là tái sinh trong lục đạo khác với giải thoát.
    
     Nói đến nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, nhiều người cho rằng đây là giáo lý của đạo Phật, một trong những đặc trưng để phân biệt đạo Phật với các đạo khác. Sự thật không phải như vậy. Các thuyết nhân quả nghiệp báo, luân hồi thực ra đã có trước khi Thái Tữ Tất Đạt Đa trở thành đấng giác ngộ
    
     Thật vậy, kể từ thuở xa xưa, nhiều ngàn năm trước khi Đức Phật Thích Ca thành đạo hay Đức Chúa Giê-Su giáng sanh, giáo thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi đã xuất hiện trên khắp năm châu.
    
     Tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước Bắc Âu, Tây Âu và Đông Âu đến các nước cổ Ai Cập, Phi Châu, Mỹ Châu, Úc Châu và nhất là Á Châu, thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi được rất nhiều sắc dân, nhiều quốc gia, nhiều người tin tưởng. Bang chứng là cho mãi đến ngày nay, giáo thuyết này vẫn còn ghi trong bộ Cổ Thư Luật Mã Nổ nổi tiếng của Ấn Độ đã có trên 4.000 năm trước Tây Lịch
    
     Ngày nay thuyết nhân quả luân hồi chẳng những được các tôn giáo và các nhà tâm linh thuyết giảng, mà cả giới khoa học, học giả cũng có lòng tin. Lòng tin đó căn-cứ vào những chứng nghiệm hoàn toàn khoa học, thực hiệu tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Hoa Kỳ vào cuối thế kỹ 20, bởi nhiều nhà Khoa bảng và khoa học, trong đó đáng kể nhất là công trình nghiêm cứu của bác sĩ Ian Stevenson.
    
     Ian Stevenson vừa là bác sĩ vừa là giáo sư chuyên khoa tâm thần tại Hoa Kỳ. Ông đã bỏ nghề đang kiếm được nhiều tiền đi khắp nơi trên thế giới, nghiên cứu thực nghiệm về luân hồi.
     Qua hơn 10 năm thực nghiệm, phỏng vấn, quan sát tại chỗ, ông viết nhiều bộ sách giá trị, trong đó có các bộ Cases of Reincarnation Type (4 tập), Twenty cases suggestive of Reincarnation và Children who remember previous lives, tất cả đều do University Press của đại học Virginia xuất bản.
    
     Hiện nay, vấn đề luân hồi tại Hoa Kỳ đã đi vào đại học và đạo học cộng đồng, là môn nhiệm ý hay bắt buộc tùy một số phân khoa như phân khoa triết học, tâm lý, nghiên cứu xãû hội, giáo dục, tôn giáo.
    
     Báo chí Hoa Kỳ đã có bàn đến luân hồi và các cuộc hội thảo của giới khoa học, học giả cũng thường được tổ chức. Gần đây, theo cuộc thăm dò của Viện Gallup thì ngày nay gần 50 triệu người Mỹ trưởng thành tin rằng có nghiệp báo luân hồi.
    
     Vậy, vấn đề luân hồi là hiển nhiên. Như vậy, muốn tránh khỏi luân hồi, hay nếu còn bị luân hồi chi phối thì ít nhứt phải tránh khỏi ba ác đạo, người tu phải làm thế nào?
    
     Cách tốt nhất để trách luân hồi và ba ác đạo: địa ngục, ngạ qủy, súc sanh, người tu phải giữ tròn ngũ giới.
     Có câu: “Ngũ giới bất trì, thế gian lộ tiệt.”
    
     Nghĩa là không hành trì ngũ giới thì bước đường tái sanh chuyển kiếp làm người sẽ gặp rất nhiều trở ngại. Người phạm giới sẽ mất kiếp người nếu phạm nặng. Còn nếu phạm nhẹ, thí dụ thuộc vào loại bất định nghiệp, thì dù có trở lại được kiếp con người, đương cơ cũng phải chịu tật nguyền hay hèn kém, đó là để trả quả.
    
     Trong nhà Phật có câu:
    
     “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ thị giả;
     Dục tri lai thế quả , kim sanh tại thị nhân”.

    
     Nghĩa là muốn biết kiếp trước ta đã gieo nhân gì, thì cứ xem kiếp này ta như thế nào; và muốn biết tái kiếp ta sẽ ra sao thì cứ xem nhân mà ta gieo tạo ở kiếp này. Như vậy giáo lý nhân quả hay nghiệp báo, luân hồi là chân lý. Gieo nhân nào gặt quả đó, trồng dưa hái dưa, trồng đậu hái đậu là lẽ đương nhiên.
    
     Đã biết triết lý nhân quả, hay giáo lý nghiệp báo luân hồi là hiển nhiên, là chân lý, người tu nên cố gắng làm thiện làm lành.
     Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tại phẩm Nghi Vấn, Lục Tổ Huệ Năng có noí:
    
     “ Này thiện tri thức, thường làm mười điều lành thì Thiên Đường liền đến”,
     Có nghĩa nếu người tu hành trì Thập Thiện viên mãn thì chắc chắn sẽ được siêu thăng “chín từng Trời đến vị”, mà đến tầng nào, thấp hay cao, đó còn tùy cách tu và công tu mà chứng đắc.
    
     Cũng vậy, nếu chưa hành trì được thập thiện mà còn muốn kiếp sau được tiếp tục tu, điều cần thiết là người tu phải giữ gìn Ngũ giới, để kiếp sau còn có thể giữ lại được kiếp làm người mà tu.
    
     Làm được kiếp con người, nói khác hơn đắc được nhơn thân trong luân hồi chuyển kiếp là một điều rất khó.
    
     Bài Giới-Tâm Kinh, thuộc Thiên Đạo có nói rất rõ:
    
     “Dễ gì lộn kiếp được làm người,
     May đặng làm người chớ dễ duôi.
     Lành dữ hai đường vừa ý chọn,
     Lành như tòng dữ tợ hoa tươi.
     Hoa tươi tòng bá khác nhau xa,
     Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.
     Gặp tiết đông thiên sương tuyết buả,
     Chỉ còn tòng bá chẳng còn hoa.”

    
     Cũng với ý nghĩa này, Đức Chí Tôn trong đàn cơ ngày 19-12-1926 có dạy “Loài người phải chịu chuyên kiếp ngàn năm muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm”
    
     Ngoài ra, hằng ngày chúng ta cúng tứ thời và nhiều khi tụng Di Lạc Chơn Kinh.
     Vậy Kinh Di Lạc trước tiên dạy ta như thế nào?
    
     Kinh nói:” Khai kinh kệ vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, ngã kim thính văn đắc thọ trì, nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa”.
    
     Bá là môt trăm, thiên là một ngàn, vạn là mười ngàn, kiếp là một kiếp làm người; nan tao ngộ là khó gặp được.
     Toàn thể câu” bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ” có nghĩa là cả trăm kiếp, cả ngàn kiếp, cả mười ngàn kiếp hay cả tỉ kiếp ( nếu ba chữ bá thiên kiếp cộng lại) ta đã không có dịp gặp kinh này để tụng đọc.
    
     Mà đọc đây là ai đọc? Đó phải là bậc nhơn phẩm mới đọc được; chớ nếu còn ở A-Tỳ hay làm ngạ quỷ, súc sanh thì làm sao đọc được. Nói như thế có nghĩa là trước đây hoặc cả trăm, cả ngàn, cả vạn, cả tỷ kiếp ta đã đánh mất kiếp làm người, hoặc không gặp Đạo, do đó ta mới không tụng được kinh này.
    
     Ngày nay đắc được nhân thân và gặp Đạo quả là ta đã trải qua một hành trình đầy gian khổ và lâu dài. Chính vì lý do đó ta chớ nên đánh mất kiếp làm người cuả ta nữa. Môt khi đã đánh mất rồi biết bao giờ mới tìm lại được.
    
     Nhiều khó khăn lắm! Với nỗi khó khăn này, trong Đạo Phật cũng có câu nói như sau:
     “Thiên niên khô thọ khai hoa dị,
     Nhứt thất nhơn thân vạn kiếp nan phùng”.

    
     Nghĩa là cây khô ngàn năm mà trổ được hoa còn dễ, chớ môt khi đánh mất nhơn thân này rồi thì biết bao giờ mới tìm lại được.
    
     Để chứng giải hai câu noí trên, trong giáo lý nhà Phật có câu chuyện như sau:
    
     Một hôm Tổ Bá Trượng, một vị Tổ Thiền Tông đăng đàn thuyết pháp. Sau khi thuyết xong, tất cả tăng chúng lui ra. Duy chỉ có môt cụ già ngồi lại mãi không về. Tổ thấy lạ bèn đến hỏi và cụ già thưa rằng:
    
     -Thưa ngài, tôi không phải là người. Tôi là Giả hồ tinh.
     Tổ Bá Trượng hỏi lý do, cụ già thưa:
     -Thưa ngài, tôi trước đây cũng là một tỳ kheo trụ trì. Nhân một hôm có người đến hỏi: người tu cao có còn bị nhân quả không? Tôi trả lời không. Do đó Đức Thế Tôn bảo rằng tôi phỉ báng Phật vì Phật không có nói như vậy. Chính vì lý do này mà tôi bị phạt làm chồn 500 kiếp. Kính xin ngài gia ân cứu độ tôi.
    
     Tổ Bá Trượng bảo: Vậy ông cứ hỏi lại ta đi, ta sẽ vì ông mà nói.
     Ong già đặt câu hỏi và Tổ Bá Trượng trả lời rằng:
     Người tu cao không lầm nhơn quả
    
     Nghe đến đây cụ già ngộ và thoát được kiếp chồn. Cụ già xin Tổ cho tăng chúng chôn giùm xác chồn cuả cụ ở trong hang động phía sau chuà với nghi lễ của một tu sĩ.
    
     Câu chuyện trên đây cho thấy chỉ cần một lời noí sai mà phải bị đọa làm thú năm trăm kiếp, cho đến khi tỉnh ngộ mới trở lại được kiếp làm người.
    
     Như vậy, được kiếp làm người rất khó và rất lâu. Nay ta đã được kiếp làm người, ta nên cố gắng giữ để mà hưởng phước, để mà tu, tu kiếp này không siêu thăng hay giải thoát, kiếp sau tu tiếp.
    
     Muốn giữ được kiếp làm người, điều cần thiết là phải giữ gìn Ngũ giới. Nói khác hơn, giữ được Ngũ giới là giữ được tái kiếp làm người.
    
     Ngũ giới thật vô cùng quan trọng.Đạo Cao Đài có Ngũ giới. Đạo Phật cũng có Ngũ giới và Đạo Chúa có mười điều răn để tín đồ hay con chiên noi theo đó mà tu hành.
    
     Dù vậy vẫn có một số ít người còn chấp thường hay chấp đoạn. Chấp thường là cho rằng kiếp làm người của ta sẽ còn mãi, hết kiếp này đầu thai kiếp khác cũng sẽ làm người. Chấp đoạn, như một số người thế gian, cho rằng chết là hết, do đó cần gì phải giữ giới hay luật làm chi cho mệt.
     Hai cách chấp thường, chấp đoạn đều là sai, nên tránh, vì đó không phải là con đường Trung Đạo.
    
     Thật ra, lý nhân qủa là sự thật hiển nhiên và giáo lý nghiệp báo luân hồi hay báo ứng là chân-lý bất khả tư nghì.
     Trong kinh Thiên Đạo, bài Giới Tâm Kinh có dạy rõ rằng:
    
     “Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,
     Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình”
    
     Nghĩa là Thầy dạy người tín đồ phải tự răn mình, cố gắng dụng công giữ gìn giới cấm, vì lẽ báo ứng rất cao thâm và vô cùng huyền diệu.
     Luật ở thế gian thì còn có thể lách luồn tránh né được , nhưng luật Thiên Đình thì “dù thưa mà chẳng lọt mảy lông”.
    
     Biết như vậy, người tu nên cố gắng dìu dắt, nhắc nhở, giúp đỡ nhau để cùng tinh tấn tu hành, mà trên bước đường tu hành, việc đầu tiên là phải giữ gìn Ngũ giới.
     Giữ được Ngũ giới, ngoài xã hội sẽ an bình, trong gia đình hạnh phúc, vì chồng chẳng lừa vợ, vợ chẳng dối chồng, một lòng một dạ thủy chung; phụ từ, tử hiếu chẳng những trong hành động mà cả trong ngôn từ, thì thử hỏi gia đình làm sao chẳng được an vui.
    
     Hơn thế nữa, với lẽ báo ứng vi diệu thậm thâm, với nhân nào quả nấy, việc giữ gìn Ngũ giới sẽ cứu độ người tu ít nhứt cũng còn giữ lại kiếp làm người để mà hưởng phước, để mà tu; chớ nếu phải đọa vào địa ngục hay làm ngạ quỷ, súc sanh thì việc tu tập sẽ rất khó thực hành.
    
     II- GIỚI VÀ NGHIỆP:
    
     Giới và nghiệp có liên quan một thiết.
     Nếu nghiệp và luân hồi theo nhau như bóng với hình thì sự liên quan giữa giới và nghiệp được ví như bộ phận máy của một chiếc xe đối với cổ xe vậy.
     Người giữ giới sẽ không tạo nghiệp. Nhưng lìa giới để gây nghiệp thì bước đường tái sanh chuyển kiếp sẽ lắm khó khăn.
    
     Thánh giáo Đại Đạo có đoạn như sau
    
     “Ngữa thuyền Thầy đợi khách sang chơn.
     Khổ hạnh khuyên con chớ dạ hờn;
     Sắm nghiệp trần gian còn phải kho,ù
     Lựa là nghi trưởng tại Bồng Sơn”
    
     Thầy vì thương nhơn sanh khổ ải nên thuyền cứu độ của Thầy luôn luôn sẵn sàng để đưa các con Thầy lìa cảnh tục bến mê mà trở về bờ giác.
    
     Thuyền của Thầy chực chờ sẳn đó nhưng nhơn sanh có chịu bước lên không? Nếu muốn đi tức chịu tu, chịu lên thuyền của Thầy thì trước tiên phải tập hiền, tập lành, tập giữ giới để không tạo nghiệp.
    
     Thầy dạy rất rõ: “Sắm nghiệp trần gian còn phải khó”, tức người tu nếu không giữ giới để còn tạo nghiệp thì bước đường trỡ về Chơn Tâm hay Phật Tánh, tìm lại Chơn Linh sẽ khó vô cùng.
     Còn sắm nghiệp trần gian là con luân hồi trong lục đạo và như vậy làm sao an hưởng được cảnh Thánh, Tiên, Phật là cảnh non Bồng.
    
     Chính nhằm cứu vớt các con Thầy nên trong đàn cơ ngày 18-1-1927 và 4 đàn cơ năm Mậu Thìn 1928, Thầy đã ân cần nhắc nhỡ các con của Thầy muốn tu trước tiên phải hành trì ngũ giới, vì giới là căn bản.
    
     Đạo Phật cũng vậy. Đức Phật Thích Ca đã dạy các đệ tử như sau:
     “Hãy tuân theo chánh pháp của ta, hãy giữ gìn giới luật mà tu thì Như Lai lúc nào cũng gần gủi. Nếu không theo chánh pháp, không giữ giới luật thì có Như Lai bên cạnh cũng chẳng giúp được gì.”
    
     Ngoài ra, Phật còn căn dặn Ngài A-Nan rằng: “Khi Phật còn tại thế thì Kính Phật làm Thầy. Khi Phật tịch diệt rồi thì lấy Giới làm Thầy.” Đây là bổn phận của người tín đồ giử gìn thế luật. Đó cũng là tôn trọng giáo pháp căn bản để tránh tạo nghiệp ác.
    
     Người tu chớ nên nghĩ rằng tu là chỉ ăn chay và hằng ngày ở nhà hay đến Thánh Thất tụng kinh gỏ mỏ. Những chỉ trì này dù rất cần nhưng chưa đủ. Căn bản của việc tu hành là phải tác trì làm lành, lánh dữ và không bao giờ tạo nghiệp ác.
    
     Kinh và chuông mỏ có mục đích dạy dỗ và nhắc nhỡ người tu tập tánh hiền, làm điều thiện để tạo nghiệp lành. Thính nghiệp mới là căn bản, là động cơ dẫn dắt luân hồi.
    
     Nói về luân hồi, ta biết rằng khi ta chết đi rồi thì ta sẽ bỏ lại tất cả, tiền tài, của cải, danh vọng, thân bằng quyến thuộc và kể cả thân xác này. Thế nhưng còn nghiệp, và nghiệp theo ta như bóng với hình trên bước đường tái sanh chuyển kiếp.
    
     Để lý giải giáo thuyết luân hồi do nghiệp dẫn, và nghiệp theo ta như bóng với hình, đạo Chúa và đạo Phật có những câu chuyện như sau: Mạnh Thường Quân, người nước Tề, thời Chiến Quốc, nổi danh là người ưa làm việc nghĩa. Vốn tính rộng rải, ông thường đem tiền cho người túng thiếu vay mượn và cho độ thân trong nhà bất cứ ai lâm cảnh ngặt nghèo.
    
     Một hôm, ông sai gia nhân qua đất Tiết để thâu nợ. Oâng còn dặn người gia nhân khi thâu được nợ hãy lấy tiền mua sắm những gì còn thiếu trong nhà. Sau khi thâu nợ xong người gia nhân trỡ về với hai bàn tay không và giải thích cho chủ nhân như sau: trước khi đi tôi đã xem xét trong nhà thấy chẳng thiếu chi, duy có món nghĩa là thiếu. Do đó, thâu được bao nhiêu tôi đã dùng hết để mua nghĩa cho tướng công.
    
     Một thời gian sau, Mạnh Thường Quân bị giải quan và trở về đất Tiết trú ngụ. Nhớ ơn xưa, những con nợ đã đem tiền của đến giúp ông với tất cả lòng thành.
     Luận giải việc Mạnh Thường Quân, đạo Chúa có nhắc nhỡ rằng: “Của cải vật chất đời này có thể qua đi, nhưng những nghĩa cử chúng ta làm sẽ tồn tại mãi mãi. Chúa Giê Su đã nói với chúng ta là chớ lo thu tịch của cải đời này vì trộm cướp có thể rình mò và mội mọt có thể đục khoét.
    
     Khi nhắm mắt xuôi tay chúng ta chỉ có thể mang theo cho mình kho tàng thiêng liêng của những nghĩa cữ.”
    
     Cũng vậy, kinh Phật có một ví dụ như sau: Có một ông trưởng giã có bốn bà vợ. Bà vợ thứ nhứt một lòng trung thành với ông thế mà ông không hề nghĩ tới.
     Bà thứ hai được ông lưu ý phần nào.
     Bà thứ ba ông luôn nhắc nhở.
     Riêng bà vợ thứ tư thì ông ở đâu bà ở đó, không khi nào rời nhau. Đến khi ông bệnh nặng sắp chết, ông bèn gọi cả bốn bà vợ đến gần bên và hỏi rằng: tôi biết sắp chết, vậy trong bốn bà có ai tình nguyện chết theo tôi không?
     Bà thứ nhứt vội nói: tôi luôn luôn trung thành chung thủy với ông; lòng tôi một giây một phút chẳng rời ông dù rằng ông bỏ tôi, không hề để ý hay nghĩ tới tôi. Bây giờ ông chết, tôi tình nguyện chết theo ông
    
     Bà vợ thứ hai nói: bình thường tôi được ông lưu ý nhắc nhở chút ít, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông ra tới phần mộ.
    
     Bà thứ ba lên tiếng: Khi còn khỏe mạnh, ông thường nhắc nhở tôi liền miệng. Bây giờ ông chết, tôi xin đưa ông ra tới cổng rào nhà.
    
     Bà vợ thứ tư là bà được ông yêu thưởng nhất phát biểu sau cùng: lúc ông còn sống thì ông ở đâu tôi ở đó chung chiếu chung phòng. Bây giờ ông chết tôi chỉ có thể đưa ông ra tới cửa nhà mà thôi.
    
     Người vợ thứ tư, Phật ví dụ cho tiền bạc. Tiền bạc luôn ở bên ta, nhưng khi ta chết rồi thì tiền bạc vẫn được cất trong rương hay tủ trong nhà; vì vậy mới nói chỉ đưa ra tới cửa nhà.
     Người vợ thứ ba Phật ví dụ cho của cải, chỉ ở trong phạm vi rào nhà, vì thế mới nói đưa ra tới cổng rào.
     Người vợ thứ hai Phật ví dụ cho công danh chức tuớc. Công danh chức tước sẽ được xưng hô tụng đọc qua điếu văn trước phần mộ, vì thế nên nói đưa đến mộ.
     Người vợ thứ nhắt, đó là Phật ví dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nó luôn luôn bám theo người tạo ra nó như bóng với hình. Nó và người tạo ra nó chẳng khi nào rời nhhau, chẳng khác nào tình nguyện cùng chết theo nhau vậy.
    
     Tóm lại, dù với đạo Phật hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nghiệp lành bay nghiệp dữ mà lúc sanh tiền ta đã tạo ra, nó sẽ theo ta như bóng với hình trên bước đường tái sanh chuyển kiếp.
    
     Chính vì vậy mà khi còn sống ta nên cố tạo nghiệp lành, nghiệp thiện và tránh nghiệp ác, nghiệp dữ. Vì sao? Vì tất cả chúng ta ai cũng mong được siêu thoát hay ít nhứt cũng còn giữ lại được kiếp làm người để hưỡng phước, để tu nửa, chớ không ai muốn tạo nghiệp ác để phải luôn hồi vào ba ác đạo địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.
    
     Để kết luận phần hai liên quan đến giới và nghiệp lành, nghiệp dữ, xin được ghi lại đây những gì mà Thầy đã dạy chúng ta.
    
     1. Thầy dạy chúng ta tu là phải hiền, phải lành. Thầy nói rất rõ:
     “Tham chi sự thế lắm đua tranh,
     Cái miếng đỉnh chung xúm dựt giành.
     Bỏ hết trong cơn mê một giấc,
     Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.
    
     Làm lành cho trọn Phật Trời thương.
     Hai chữ hơn thua chớ liệu lường.
     Mừng thiệt là khi nương cảnh tịnh,
     Khen chê giận ghét lẽø đời thường.”
    
     Cũng với ý nghĩa này, trong đàn cơ ngày 21-7-1926 tại tư gia Đức Cao Thượng Phẩm, Thầy có bảo rằng: “Tu là chi? Tu là trau dồi đức hạnh cho nên hiền. Phẩm vị Tiên Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị…”
    
     Rõ ràng trích đoạn các phần cơ bút, Thánh Giáo nêu trên cho thấy Thầy và các Đấng Thiêng Liêng dạy tín đồ hễ tu là phải hiền lành, vì nếu tu mà còn hung dữ thì khác nào chẳng tu. Tu có nghĩa là sửa, mà sửa đây là sửa những gì? Đó là sửa đổi thói quen, tập khí mà ta đã huân tập từ lúc mới sinh ra và sống đời thế tục gần trọn kiếp mãi cho đến ngày ta biết tỉnh ngộ tu hành.
    
     Nói rõ hơn, ta phải sửa đổi lại ý nghĩ, hành động, lời nói để đừng tạo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Ta nên nghĩ thiện, làm lành và ngôn ngữ cũng phải thiẹân lành. Nếu trước đây với tâm phàm phu, ta đã lở làm những đều ác, nói những lời hung dữ, nghĩ những việc chẳng lành thì nay biết tu ta phải ngừng bỏ và chấm dứt cố lo tu để mà chuyển nghiệp.
    
     2. Thầy dạy người tu đừng nên tạo nghiệp: vì tạo nghiệp trần gian thì sẽ còn khổn khó vô cùng, không làm sao thoát khỏi tam đồ, lục đạo.
     Người tu trước tiên phải làm lành, lánh dữ, để không tạo nghiệp ác dù do ngôn, thân hay ý, thì bước kế tiếp là việc tụng kinh gỏ mỏ mới diệu dụng được.
    
     Có câu:
    
     “Sân si nghiệp chướng chẳng chừa,
     Bo bo mà giử tương dưa làm gì”
    
     Còn sân là còn hung dữ chớ chẳng phải hiền lành. Còn gây nghiệp chướng chắc chắn sẽ còn thọ báo. Do đó, dù có chay lạc tương dưa cũng chưa chắc gì gỡ được hết tội tình. Điều quan trọng là phải hiền lành và không tạo nghiệp ác.
     Muốn thế, người ta phải vẹn vẽ hành trì Ngũ giới. Giữ tròn ngũ giới là tránh được thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
    
     III- GIỚI VÀ ĐẠO:
    
     Thầy giáng cơ dạy Ngũ Giới là cốt để bảo vệ các con Thầy. Hội Thánh ban hành Tân Luật nơi điều 21, chương 4, nói vế Giới Cấm cũng nhằm khuyên răn tín đồ Đại Đạo.
     Theo đúng lời dạy của Thầy, làm đúng như sự khuyên răn của Hội Thánh, đó là người tín đồ đã dung công tu tập đúng theo Đạo.
     Do đó nên nói giữ giới tức là giữ Đạo
    
     Đạo được nói ở đây là đạo làm người tức Nhơn Đạo.
     Nhơn Đạo là phần căn bản trong Ngũ Chi Đại Đạo gồm có Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo.
    
     Nói Nhơn Đạo là căn bản vì người tu trước khi có thể thành Thánh, thành Tiên, thành Phật thì trước tiên phải làm tròn bổn phận con người. Nói khác hơn, khi đạo làm người chưa tròn thì không thể thành Thánh, Tiên, Phật được.
    
     Để lý giải Nhơn Đạo là căn bản, Thánh Ngôn có những đoạn như sau:

     “Một Trời một đất một nhà riêng,
     Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
     Cầm mối thiên cơ lo cứu chúng,
     Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.”
    
     “Sai lầm một thuỡ biết ăn năn,
     Năn nỉ lòng kia tự xét rằng
     Rằng ở đời thì Nhơn-Đạo trọn,
     Trọn rồi Thiên Đạo mới hoàn toàn.”

    
     Qua Cơ Bút, Thánh Giáo, Thầy lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ không những chỉ giúp các Đấng Thánh, Tiên, Phật đọa trần qui hồi cựu vị, như đã được ghi trong đàn cơ tại Chùa Gò Kén năm Bính Dần 1926, mà còn đặc biệt chú trọng đến việc cứu vớt các Nhơn phẩm tức toàn thể nhơn sanh đã đắc được kiếp người.
    
     Thánh thi nói rõ là ở đời nhơn đạo trọn thì mới mong đạt đến Thiên Đạo, có nghĩa đạo người vẹn vẻ thì mới mong thành Tiên Phật được.
     Nói rõ hơn, qua Thánh Giáo Cơ Bút, Thầy và các Đấng Thiêng Liêng nhắc nhở toàn thể nhơn sanh khi tu hành, bước quan trọng trước tiên là phải làm tròn Nhơn Đạo. Đây là một đặc trưng trong giáo pháp của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ giúp tín đồ dễ dàng dụng công trên bước đường tu tập.
    
     Sự dụng công tu tập thật ra vô cùng khó khăn nếu không thì ai cũng có thể thành Thánh, Tiên, Phật được cả.
    
     Sỡ dĩ nói khó khăn vì nhơn sanh suốt cuộc đời đã bị trần thức lôi kéo, chướng nhiều tuẹ ít, đắc được kiếp làm người đã khó khăn lắm rồi vì phải trải qua biết bao căn kiếp tu hành.
    
     Giờ đây, muốn từ kiếp con người bị bủa vây bởi lục căn, lục trần, lục thức, tập khí dẩy đầy do vọng tưởng từ vô thủy huân tập khiến vọng niẹâm chẳng rời, vọng tình bao phủ thì làm sao Kiến tánh thấy được Chơn Tâm hay Bản Lai Diện Mục của mình, để từ đó tinh tấn tu hành cho tự tánh thanh tịnh, chơn tâm rổng lặng tròn đầy hầu bước lên quả Phật đại định như như.
    
     Dù không chứng đắc được quả vị Thánh, Tiên, Phật, người tín đồ Đại Đạo nếu theo đúng lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng, thì ít nhất cũng không bị thất “nhơn thân.”
     Đó là nhờ vào việc hành trì ngũ giới. Chính vì thế mà nói rằng mục đích việc giữ giới là giữ Đạo và Đạo ở đây là Nhơn Đạo tức đạo làm người. “Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên”, đây là lời dạy của Thầy quá rõ ràng vì lòng thương các con của Ngài vẫn còn mê muội.
    
     Thật vậy, con người vì mê muội mà không nhận ra được Chơn Tâm của mình. Mà Chơn Tâm là gì? Đó là cái dụng của Bản Thể Chơn Linh tại thế gian này, nói rõ hơn là Chơn Tướng của Chơn Linh, như lời Đức Hộ Pháp thuyết đạo đêm 6 tháng 7 Mậu Tý (9-8-48) tại Đền Thánh.
    
     Nhận biết được Chơn Tâm hay Phật Tánh đã khó khăn, do đó trở về với Chơn Linh hay Pháp Tánh lại càng khó khăn hơn nữa nếu người tu chưa hội đủ căn cơ. Dù vậy, việc giữ đạo làm người tức Nhơn Đạo sẽ không khó khăn lắm nếu người tu biết giữ gìn ngũ giới; không để cho tình thức xô đẩy mải đến bến mê mà cố gắng tỉnh ngộ để trở về bờ giác.
    
     Muốn trở về bờ giác, Đức Hộ Pháp có dạy tín đồ của Đức Ngài phải biết “Hồi Quang Phản Chiếu.”
    
     Vậy Hồi Quang Phản Chiếu là gì?
     Như lời Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh đêm rằm tháng giêng và 9 tháng 7 năm Mâïu Tý (1948) là “đem thần trí ra ngoài thể xác đặng quan sát lại mình và hành tàng của thế nhân ra sao . . . rồi gẩm lại ta ở cảnh HƯ hay THẬT…”
    
     Đúng như lời Đức Ngài đã dạy, đó là đem ánh sáng của Chơn Tâm, cái dụng của Bản Thể Chơn Linh mà soi rọi lại chính mình.
    
     Dù biết vậy, nhưng cũng có người thay vì làm theo lời dạy của Đức Ngàïi, lại cứ để cho lục căn chạy theo lục trần sanh ra lục thức rồi từ Thập Bát Giới này mà triền miên tạo nghiệp.
    
     Chính do nghiệp mà đường luân hồi cứ miên man, không dừng, không dứt. Những vị này, với thời gian năm tháng trôi qua, theo dòng đời lôi cuốn, đã không chịu Hồi Quang Phản Chiếu, triền miên mơ màng chẳng tỉnh, mà cứ để nhản căn phóng chiếu ra ngoài chạy theo trần cảnh, thấy người mà chẳng tự thấy mình, để biết rõ xác thân này giả hay chơn, và cảnh đang ở là hư hay thật.
    
     Rồi với sự lôi kéo của thất tình lục dục, có người sống như mọi người thế gian đang sống, đắm mê thanh sắc phù du, luyến lưu lợi danh huyền ảo mà chẳng nhớ Thánh Ngôn từng dạy:

     “Phí quí lớn là giành với giựt.
     Lợi danh cao bởi mượn và xin.
     Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa.
     Một kiếp đeo đưa mối nợ tình.”
    
     Có người sống như mọi phàm nhơn khác, cứ thấy, cứ nghe, rồi bị đắm mê và bị lôi cuốn theo cái thấy cái nghe của mình, từ đó sanh ra phân biệt đúng sai, tốt xấu, khen chê rồi thương ghét để cuối cùng tạo nghiệp.
    
     Giờ đây, tùng theo Đại Đạo, tuân theo giáo pháp Cao Đài, nếu ta hành trì đúng theo lời của Đức Hộ Pháp dạy là phải biết Hồi Quang Phản Chiếu đặng định lại tướng diện của mình thì trước tiên ta sẽ thấy rõ con người chân thật của ta, cũng như cảnh mà ta đang ở là HƯ chớ không phải THẬT (như lời Đức Hộ Pháp đã nói).
    
     Đã thấy con người chân thật của ta đương nhiên ta biết ta phải làm gì. Việc trước nhất là làm sao cho tròn Nhơn Đạo tức đạo làm người.
     Muốn giữ trọn đạo làm người, điều cần thiết là phải giữ gìn ngũ giới.
    
     Giữ gìn ngũ giới ngoài việc giúp ta tinh tấn tu hành, còn cho ta nhiều lợi lạc ngay tại thế gian này.
    
     Thí dụ nếu không sát sanh hay du đạo thì làm sao bị tội tù. Nếu không tà dâm thì gia đạo luôn được yên vui hạnh phúc. Trong gia đình, ngoài xã hội, mọi người giao tiếp đối xử với nhau tâm không loạn, ý không vọng động mà trái lại nho nhả ôn hòa, ái ưu đoàn kết thì gia đình xã hội sẽ được an bình.
    
     Tóm lại, tam cang, ngũ thường, tứ đức, bổn phận đối với Tổ Quốc, đạo phu thê, tình phụ tữ, nhân, nghĩa lể, trí, tín; công, ngôn, dung, hạnh nếu làm tròn thì tâm ta luôn luôn an bình, mà tâm bình thì thiên hạ bình.
    
     Tâm bình là mơ ước của mỗi nhơn sanh. Thiên hạ bình là mục tiêu của mọi đoàn thể, mọi quốc gia, mọi tôn giáo. Dù vậy, trên thực tế tâm nhơn sanh có an bình không? Thiên hạ có an bình không?
    
     Nhìn vào sinh hoạt của các tôn giáo, trong cũng như ngoài phạm vi chùa chiền, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, câu trả lời là: cũng có và cũng không.
    
     Không là tại sao? Tại vì người tu đã không giữ tròn ngũ giới, trước tiên thuyết thị thuyết phi, nói phải nói quấy, nói đúng nói sai, nói hay nói dỡ, nói tốt nói xấu, hể tốt thì thương xấu thì ghét, đúng thì khen, sai thì chê, rồi từ đó sanh ra ngấm ngầm hay công khai tranh chấp dưới nhiều hình thức mà không nhớ rằng làm như vậy là đã không hành trì giới.
    
     Giới được đề cập đấy là giới VỌNG NGỮ, với những nét vi tế của giới này sẽ được đề cập ở phần 2.
    
     BẠCH-Y

Tiếp theo

Index

Home